Một lớp học tiếng Anh (Kỳ 6): What do you do to life?

(Kỳ 1Kỳ 2Kỳ 3Kỳ 4Kỳ 5Kỳ 6Kỳ 7)

1. Khi đọc bài tập về nhà của các bạn, tôi thấy mình cần bổ sung thêm một phần về danh từ: nguyên tắc dùng sở hữu cách (“‘s” và “of”). Có lẽ do ảnh hưởng của đặc điểm văn bản đưa ra làm ví dụ (Một dòng trong bài “Things should be short” của Sei Shonagon được dịch sang tiếng Anh là “The speech of a young girl” chứ không phải là “A young girl’s speech”), khi liệt kê các cụm danh từ, các bạn chỉ dùng toàn là “of” mà không dùng sở hữu cách với “‘s”.

Tôi không rõ “The speech of a young girl” và “A young girl’s speech” thì khác nhau thế nào trong cách cảm nhận của người bản ngữ; với tôi, tôi chỉ cảm nhận được sự đến trước hay sau của các danh từ và nghĩa của chúng, do ngôn ngữ có tính hình tuyến. Vì thế nếu muốn cho người đọc cảm thấy cái “speech” trước thì cần dịch là “the speech of a young girl”. Trong ngôn ngữ giao tiếp bình thường, đối với danh từ chỉ người hay các cơ quan bậc cao thì việc sử dụng “‘s” có vẻ là phổ biến hơn.

2. Em Mashimoro có một cái list “things that give a clean feeling” khác biệt:

Reading a good book

Watching Wong Kar Wai’s films

Far from Hanoi

Living in a clean room

A shining smile

Alone in Autumn

Coming back my childhood

Touching the beauty in an art work

Tất cả những “cái” (things) đều được em đặt ở trong hoạt động. “Cái” không thể tách biệt được khỏi hoạt động của con người, nhất là khi cái ấy đem lại một cảm giác.

3. Tôi định rằng bài số 2 sẽ học về động từ, xây dựng dựa trên chương 3 và chương 7 của quyển A University Grammar of English mà tôi đã nhắc đến trong các kỳ trước.

4. Việc phân biệt động từ theo thành phần bổ nghĩa cho nó (complementation) khá quan trọng để dùng động từ cho đúng, nên đã muốn nghĩ ra một bài tập khiến người học để ý đến khía cạnh này. Sau khi tư duy, với sự hỗ trợ của một người bạn thân, tôi đã cho ra một danh sách những câu như thế này:

  • She is sleeping a book.
  • I am walking my dog.
  • He will die you.
  • I sat a flower.
  • I age my mother.
  • I have flown my book.
  • They started a family.
  • She went the debate.
Trong những câu trên, có những câu đúng, và có những câu ngớ ngẩn, cần phải thêm một cụm từ nào đó vào để câu có ý nghĩa. Ví dụ: “I am walking my dog” là một câu đúng, động từ “walk” vừa có thể là nội động từ (intransitive) vừa có thể là ngoại động từ (transitive). “She is sleeping a book”  thì hơi ngớ ngẩn, vì ngay cả khi “sleep” được xác định là ngoại động từ thì “a book” không có vẻ là một tân ngữ phù hợp. Vậy có thể sửa là “She is sleeping on a book.”
*
5. Tôi cũng muốn người học lưu ý đến “collocation” và việc phải tra cứu để xem các từ có thể kết hợp với nhau như thế nào. Vậy nên, tôi đã đục lỗ một bài thơ:

Life
By: Shaira, the Philippines

Life is beauty, (1) __________ it
Life is bliss, (2) __________ it
Life is a dream, (3) __________ it

Life is duty, (4) __________ it
Life is a gift, (5) __________ it
Life is a promise, (6) __________ it

Life is a song, (7) __________ it
Life is a sorrow, (8) __________ it
Life is a struggle, (9) __________ it
Life is a tragedy, (10) __________it

Life is an adventure, (11) __________ it
Life is a gift, (12) __________ thankful for it
Life is so precious, (13) __________it

Life is life, (14) __________ it to the fullest

Khi “life” đã được định nghĩa như thế, mình làm gì với nó? Mỗi người sẽ có thể có một ứng xử khác nhau, miễn sao dùng được động từ có khả năng kết hợp được với danh từ mà theo đó “life” đã được định nghĩa. Nếu làm triệt để hơn, thì sẽ phải tự định nghĩa cuộc sống.
*
6. Khi nghĩ về collocation, tôi lại nhớ ra một câu của Paul McCartney: “Let’s write a swimming pool.” Tôi chẳng thể nào “materialistic” như thế.
*
7. Slides của bài giảng có thể xem ở đây. Tôi có sử dụng nhiều slides của nhóm dạy ngữ pháp ở trường tôi.
*
8. Tôi không biết dịch “intenstive”, “extensive” (khi dùng để phân loại động từ), và “collocation” (thành ngữ?) ra tiếng Việt là gì. Tôi vẫn đang giữ những danh sách thuật ngữ ngôn ngữ học Anh Việt và Việt Anh cũng như một vài quyển sách ngôn ngữ học của bạn tôi. Những kiến thức thu được từ việc “bò ra” học ngôn ngữ học đại cương ngày ấy hóa ra là hữu dụng, nhưng chuyện này tôi sẽ kể sau.

2 thoughts on “Một lớp học tiếng Anh (Kỳ 6): What do you do to life?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s