Lão Oa Giảng Độc

Nguồn: http://www.ninhhoatoday.net/stbkky29-5.asp

Thầy Đồ Cóc

Làng tranh mộc bản dân gian Đông Hồ và Hàng Trống đều có bức tranh này. Bức tranh được ghi chú bằng một dòng chữ Hán, đó là đề tài của bức tranh: “Lão Oa giảng độc” 老 蛙 講v 讀. “Oa” có nghĩa là con ếch, nhưng dân gian thường gọi là cóc. Con cóc, chữ Hán Việt là Thiềm thừ 蟾¸ 蜍. “Lão Oa” là con cóc già, “giảng độc” là giảng dạy, đọc chữ, có người cho giảng độc là độc quyền giảng dạy, không ai dạy thay đựợc. Dân gian xem tranh, đặt tên cho tranh là THẦY ĐỒ CÓC.

Xem tranh, góc tranh có cây tùng, tượng trưng cho sự tiết tháo, người hiền triết. Dưới bóng cội tùng là cảnh một lớp học. “Thầy đồ Cóc” có thân hình to lớn hơn các học trò, đang ngồi trên sập gụ với một tư thế rất oai nghiêm, một tay chống lên sập, một tay chỉ vào chồng sách đặt bên. Trước mặt là án thư, đặt trên đó những đồ vật liên quan đến việc giảng dạy và sinh hoạt của thầy: ống bút, nghiên mực, đĩa đèn dầu, bộ ấm chén, bình điếu thuốc lào với chiếc cần hút cong vút. Một học trò Cóc đứng bên cạnh, tay xách ấm nước, khúm núm chuẩn bị phục vụ châm nước cho thầy. Bên cạnh, một trò Nhái (có ghi chú chữ trưởng長, có nghĩa như một lớp trưởng) hai tay cầm một cuộn kết nối bằng những thanh tre, trên đó là những câu chữ, dùng như sách vở ngày nay, đang giúp một trò khác học bài. Dưới đó là một trò Cóc đang ngồi học bài trước mặt là sách bằng những thanh tre kết nối.

Bên cạnh án thư, một trò Cóc đang ôm vở trả bài, khép nép ngước nhìn, chắc là không thuộc bài. Sau lưng là một hoạt cảnh: một trò Cóc to lớn hơn các trò khác (chỉ thua độ lớn của Thầy) đang ngồi chứng kiến cảnh hai trò cóc đánh đòn một trò Cóc khác: một trò ngồi lên lưng khống chế trò Cóc bị phạt, một trò Cóc khác, một tay nắm chặt mông trò bị phạt, một tay cầm roi giơ lên. chuẩn bị “giáng” xuống. Bên cạnh có ghi chú hai chữ Hán: Cầm 擒 có nghĩa là bắt giữ và chữ chinh 征 có nghĩa là đánh kẻ có tội.

Bên cạnh sập gụ và án thư có hai chú cóc nhỏ, chắc là những chú cóc ham học, đến lớp học, lăng xăng nhảy nhót, mắt dõi theo những học trò Cóc “đàn anh” đang sinh hoạt.

Bức tranh với 12 con cóc được dàn trải ra khắp bề mặt bức tranh, tạo nên một khung cảnh linh hoạt, có phần nhốn nháo, trên một nền vàng sáng với những màu xanh lục, xanh lá cây, màu đà, màu đen trắng … đựợc phân bố rất hài hòa, nét in sắc sảo.

Việc dạy học cho trẻ em trong các trường làng xưa do các ông đồ, những sĩ tử nho giáo lỡ vận trong thi cử, những nhà nho ẩn danh hay những quan lại từ quan lui về quê đảm nhiệm. Vậy sao nghệ nhân dân gian không vẽ một cảnh lớp học xưa với ông đồ chỉnh tề khăn đóng áo dài ngồi trên sập gụ giảng dạy học trò còn tóc để chỏm ngồi học xung quanh mà ở bức tranh này, thầy giáo là một con cóc với một nhóm học trò toàn là cóc nhái ?

Có nhiều cách giải mã về bức tranh dân gian này.

Tranh “Thầy đồ cóc” đựợc xếp loại vào tranh châm biếm đả kích trong dòng tranh dân gian Đông Hồ. Tuy đường nét khắc họa rất nghiêm chỉnh, nhưng xem tranh vẫn thấy có tính chất trào lộng. Qua đó, thấy đựợc nền giáo dục xưa, dùng roi vọt để giáo dục trẻ thơ.

Nhưng có người không cho ý nghĩa bức tranh là như thế. Trong tác phẩm Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam (1), tác giả là Nguyễn Vũ Tuấn Anh và một ít tác giả khác cho rằng bức tranh “Thầy đồ Cóc” gợi lại lối viết chữ xưa, có tên nôm na là “chữ nòng nọc.” Cóc là loài lưỡng cư và đẻ ra nòng nọc. So sánh chữ viết của người xưa ở nước ta khởi thủy có tự dạng ngoằn ngoèo như con nòng nọc nên gọi là “chữ nòng nọc,” nhà nho gọi là khoa đẩu văn 蝌ị 蚪½ 文, vì khoa có nghĩa là con nòng nọc. Tác giả cho rằng: “chữ khoa đẩu là chữ viết chính thức của nền văn minh Lạc Việt. (…). Bức tranh “thầy đồ Cóc” chính là một mật ngữ hướng thế hệ con cháu tìm về nguồn cội của tổ tiên. Bởi vì, khoa đẩu tức chữ hình con nòng nọc. Hay nói một cách khác: chỉ có cóc mới có chữ để dạy cho đời. Cho nên ông Cóc mới độc quyền trong sự giảng dạy. Đó chính là ý nghĩa của bức tranh dân dã này.” Tác giả có nhắc đền tên bức tranh “Lão oa giảng độc”, theo tác giả, Cóc mới độc quyền trong sự giảng dạy.

Có người lại dẫn sách “Thanh Hóa quan phong” (2) 清 化 觀^ 風 của Vương Duy Trinh 王 維 楨có ghi 35 chữ cái, nét chữ ngoằn ngoèo “như con nòng nọc” và tác giả cho rằng: “ Tỉnh Thanh Hóa có một châu quan, có chữ là chữ thập châu đó. Người ta thường nói rằng nước ta không có chữ. Tôi nghĩ rằng không phải. Thập châu vốn là đất nước ta. Trên châu còn có chữ, lẽ nào lại dưới chợ lại không. Lối chữ châu là lối chữ nước ta đó.” Từ đó, kết luận rằng “Cậu Ông Trời” (Con cóc là cậu Ông Trời) là mẹ đẻ của nòng nọc, gợi ý “chữ nòng nọc”. Đó là ý tương của nghệ nhân, muốn nhắc con cháu nhớ đến nguồn cội.

Lại còn có người cho rằng bức tranh “Thầy đồ cóc”  được sáng tác bởi một “ông đồ nho, cám cảnh cho thân phận nghèo hèn của mình, đã tự ví thân phận của con cóc”. (…) “Lão oa giảng độc” chẳng qua chỉ là các ông đồ tự cười cợt mình mà thôi”. (…) “ngắm lại bức tranh “Lão oa giảng độc” thấy cặp mắt thao láo, ngơ ngác của ông đồ cóc, cùng với dăm bảy đứa học trò cóc đủ loại, đứa quay ngược, đứa quay xuôi, ồn ào nhộn nhạo, thật chẳng ra vẻ một lớp học, càng thêm ngậm ngùi cho cái thân phận nghèo hèn của ông đồ nho ngày xưa.” (3)

Các cách giải mã bức tranh trên, có thật như thế chăng ? Các nghệ nhân dân gian có biết thứ chữ “nòng nọc” và có ý tưởng như thế không ? Có thật chăng thầy đồ xưa cám cảnh thân phận nghèo hèn của mình ?

Đối với dân gian, con cóc là một con vật được dân gian nhân hóa, xem đó là một “nhân vật”  dũng cảm:

Con cóc nằm góc bờ ao
Lăm le nó muốn nuốt sao trên trời

Dân gian lại “nâng cấp” con vật nhỏ nhoi này là “Cậu Ông Trời” :

Con cóc là cậu Ông Trời
Hễ ai đánh nó thì Trời đánh cho
Con cóc là cậu thầy Nho
Hễ ai nuôi nó Trời cho quan tiền

Đó là chưa kể con cóc còn biểu hiện của cuộc sống tự lập, không dựa vào ai:

Con cóc cụt đuôi
Ở bờ ở bụi
Ai nuôi mày lớn ?
Dạ thưa Thầy, con lớn mình ên …

“Mình ên,” tiếng địa phương là một mình, một mình tự kiếm sống và trưởng thành.

Hình ảnh con cóc cũng đã xuất hiện trên trống đồng Đông Sơn có thể xem là tín sứ của Thần Mưa như trong bài hát dân gian:

Kìa con cóc nó kêu trời mưa tới nơi rồi.
Người phàm trần nào đâu có biết:
Con cóc kia là Cậu Ông Trời.

Đó là sự suy tôn của dân gian, của tín ngưỡng phồn thực, của nghi lễ cầu đảo, của ước vọng mùa màng tươi tốt vì mưa thuận gió hòa… Cho nên dân gian có niềm tin, khi nào cóc nghiến răng là trời sắp mưa. Như thế, hình ảnh con cóc rất gần gũi với người dân quê, một con vật mà dân gian đã gửi gấm ít nhiều tâm tư, ước vọng của mình trong đời sống nông nghiệp.

Và họ đã đưa hình ảnh con vật đó vào một trong những bức tranh mộc bản dân gian, với tên “Lão oa giảng độc.”

Đây là bức tranh thể hiện cảnh tượng không có trong thực tế. Chỉ là biểu tượng. Tranh dân gian thường được người dân mua về treo trong dịp Tết, đó là tranh Tết. Trong ba ngày Tết thì: Mồng một Tết cha (bên nội), mồng hai Tết mẹ (bên ngoại), mồng ba Tết thầy. Đó là ba ngày thiêng liêng của đầu năm mới, có ý nghĩa giáo dục truyền thống của gia đình. Dân tộc ta lại còn có truyền thống “tôn sư trọng đạo,” “trọng thầy mới được làm thầy,” “không thầy đố mày làm nên” … Do đó, trong ba ngày Tết thiêng liêng, phải dành một ngày cho Thầy sau hai ngày thực hiện chữ Hiếu. Bức tranh “Thầy đồ Cóc” thể hiện được ý nghĩa tinh thần của người đi học phải luôn nhớ ơn thầy, người đã giáo dục và đào tạo mình nên người hôm nay, thông qua một hình tượng thân quen, gần gũi là con cóc, với những nét trào lộng cố hữu của dân tộc và cũng là một nét, một bản chất riêng của dòng tranh mộc bản dân gian, phù hợp với sự tươi vui của những ngày Tết.

Một lớp học xưa của các cụ đồ Nho là như thế. Chưa đỗ đạt, chưa làm quan thì phải tìm kế sinh nhai, chẳng lẽ để vợ “quanh năm buôn bán ở mom sông” nuôi con, nuôi mình. Hơn nữa, những người học đạo Nho bao giờ cũng có một chí hướng là đem sở học, tài năng ra giúp đời, giữ gìn chính đạo, dạy dỗ hậu sinh, truyền đạo Thánh, lấy phẩm hạnh của mình làm mẫu mực cho người đời noi theo. Do đó, chưa vinh hiển, Thầy đồ vẫn được dân chúng nể vì, xã hội trọng vọng. Thầy tuy nghèo, nhưng dạy học, tiền học chỉ lấy tượng trưng và có sự thỏa thuận của phụ huynh. Lớp học là nhà cụ đồ. Chỗ thầy ngồi là bộ ván hay sập gụ với chiếc bàn nhỏ để sách bút nghiên cùng các vật dụng của thầy như bộ ấm chén, bình thuốc lào. Học trò thì ngồi dưới đất, sách vở bút nghiên để dưới đất, khi viết thì khom lưng. Trò thì phải thay Cô lo nước nôi điếu đóm cho thầy. Khi trò nào lười nhác, nghịch ngợm, phá rối thì roi thầy không tha. Sách Tam Tự Kinh có chép “Giáo bất nghiêm, sư chi nọa” có nghĩa là dạy học mà không nghiêm là do sự lười biếng của ông thầy. Bổn phận của ông thầy, không những dạy cho trò biết chữ mà còn phải uốn nắn học trò để thành người có phẩm hạnh. Người xưa tin rằng “Thứ nhất hay chữ, thứ nhì dữ đòn.” “Thầy hay” là phải giỏi, nhưng phải “dữ đòn” thì học trò mới sợ mà chăm học, không dám nghịch ngợm, có học mới nên người. Lớp có trưởng tràng là một trò giỏi, siêng năng, giúp thầy hướng dẫn, kèm những trò kém hay mới học vỡ lòng và trừng phạt những trò lười, trò nghịch thay thầy. Lớp học xưa như thế sao bằng lớp học ngày nay. Lẽ dĩ nhiên, với ngày nay, lối giáo dục xưa đã lỗi thời, không phù hợp với nguyên tắc sư phạm, không phù hợp với thời đại, nhưng lối giáo dục xưa cũng đã đào tạo biết bao danh nhân, hiền sĩ nổi tiếng trên đàn văn học, chính trị, quân sự trong lịch sử nước nhà.

Dòng tranh mộc bản dân gian, nhiều tranh có ghi những dòng thơ bằng chữ Hán Nôm để vịnh tranh. Tranh “Lão oa giảng độc” thì không thấy thơ. Nhưng theo các nghệ nhân làng tranh dân gian Đông Hồ, trên tranh ván xưa, có bài thơ :

Tìm thầy hỏi bạn NHÁI chi mà
Thấy học xem bằng ẾCH thấy hoa
Mở mắt CHÃO CHÀNG soi vũ trụ
Đem gan CÓC TÍA đối sơn hà

Không những bài thơ chỉ tên và tính cách của loài ếch nhái (nhái, ếch, chão chàng, cóc), một loạt nhân vật trong bức tranh mà còn cho ta thấy được sự ham học hỏi, chăm chỉ học hành thì hiệu quả của sự học sẽ đem đến cho ta những hiểu biết về những hiện tượng trong vũ trụ về thế giới tự nhiên, xã hội quanh ta, giúp ta thành những người hữu ích cho xã hội.

Điều đó, có phải là một “thông điệp” của giới nghệ nhân làng tranh mộc bản dân gian Đông Hồ muốn gửi gấm đến các thế hệ sau nhân ngày “mồng ba Tết Thầy” hàng năm và ngày nay- Ngày NHÀ GIÁO VIỆT  NAM 20 THÁNG 11?

Ngô Văn Ban

CHÚ THÍCH :

NGUYỄN VŨ TUẤN ANH, Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002

VƯƠNG DUY TRINH, Thanh Hóa quan phong, bản dịch của Nguyễn Duy Tiếu, Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh Niên xb, Sài Gòn, 1973.

ĐẶNG ĐỨC THI, Đôi điều về bức  tranh “Lão oa giảng độc” Tạp chí Xưa Nay, số 154, tháng 12-2003.

NGUYỄN BÁ VÂN – CHU QUANG TRỨ Tranh dân gian Việt Nam, NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1984, trang 113.

Xem thêm

Bài viết Thầy đồ trong hội họa của thầy Phùng Hồng Kổn (trường THPT Phan Đình Phùng Hà Nội). Thầy Kổn giới thiệu một bức tranh ông đồ khá hay của họa sỹ Bảo Toàn:

Photobucket

3 thoughts on “Lão Oa Giảng Độc

  1. Xin lỗi, bác có thể cho cháu được biết rõ hơn về comment của bác về bài viết Thầy đồ trong tranh của thầy Phùng Hồng Kổn (thpt Phan Đình Phùng)trên phungkon´s blog ngày 4/6/2011 được không ah? cháu vẫn không hiểu rõ ý bác muốn nói là gì vậy ah? Cháu cám ơn bác ah!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s