Tư duy công cụ và những chấn thương với ngôn ngữ (1)

Lời Giới Thiệu

1. Nhận diện tư duy công cụ

Tư duy công cụ (instrumental reasoning) là lối nhìn nhận một sự vật hiện tượng như là phương tiện để đạt tới một cái đích khác (một sự vật hiện tượng khác). Đây là một lối tư duy mang tính cấp bậc, với đích được đặt lên trên phương tiện. Nếu người ta cũng nghĩ về phương tiện, về đích, nhưng cho rằng phương tiện và đích không ở trong một mối quan hệ cấp bậc và sự phân định phương tiện-đích không rõ ràng thì tư duy ấy không còn là tư duy công cụ nữa.

Suy nghĩ rằng ngôn ngữ là một hệ thống vật chất dùng để giao tiếp là một lối tư duy công cụ. Nghĩ như vậy chẳng có gì sai vì nếu người ta nghĩ như thế thì người ta thấy thế thật.

Chúng ta chẳng đang giao tiếp bằng ngôn ngữ là gì? Vâng, chúng ta giao tiếp với nhau và định nghĩa cái dùng để giao tiếp là ngôn ngữ. Đấy chưa chắc đã là tư duy công cụ. Ta chưa biến giao tiếp thành công cụ của một cái đích nào đó và chưa cho rằng ngôn ngữ kém quan trọng hơn giao tiếp. Khi ta bắt đầu cho rằng giao tiếp ở cấp bậc trên, ngôn ngữ ở cấp bậc dưới thì ấy là lối tư duy công cụ. Trong mối quan hệ bất bình đẳng này, ngôn ngữ bị công cụ hóa và giao tiếp bị đích hóa.

Khi lấy ngôn ngữ làm đối tượng quan tâm thì tại sao lại phải ngay lập tức biến nó thành một thứ công cụ cho giao tiếp? Tư duy như vậy là đã mắc kẹt ở trong một hệ quy chiếu. Nó không sai nhưng là hạn hẹp. Ngôn ngữ có thể không phải là công cụ của giao tiếp mà là công cụ của tư duy hay công cụ thăng tiến xã hội chẳng hạn. Đấy vẫn là lối tư duy công cụ dù nghĩ như thế là đã thoát sang những hệ quy chiếu khác. Có một khả năng: ngôn ngữ chẳng là công cụ. Tự sự tồn tại của nó đã rất đẹp. Hoặc là rất quyền lực. Thậm chí nó còn biến người ta trở thành công cụ của nó. Tư duy về ngôn ngữ như thế thì thoát khỏi tư duy công cụ. Người ta có thể nhìn nhận mình như công cụ của ngôn ngữ nhưng đó không phải tư duy công cụ bởi ngay khi người ta nhìn nhận như vậy người ta đã không còn hoàn toàn là công cụ nữa. Ngôn ngữ cũng không phải là đích mà chỉ là một thứ đã và đang tồn tại.

2. Quan hệ với ngôn ngữ

Tôi cho rằng khi nghĩ về ngôn ngữ mà nghĩ ngay nó là công cụ để làm gì đó thì không sai nhưng hẹp. Tôi muốn đề xuất những cách nghĩ khác. Hãy thử xem bạn là công cụ của ngôn ngữ như thế nào. Nó điều khiển bạn ra làm sao? Chúng ta cũng có thể tiếp cận với ngôn ngữ theo một mối quan hệ ngang bằng mà tại đó chúng ta chơi với ngôn ngữ như với một người bạn. Phải thú nhận rằng tôi yêu thích cách nghĩ này hơn cả. Tôi nghĩ xây dựng được một mối quan hệ tốt đẹp với ngôn ngữ là điều hết sức quan trọng để người ta có thể sống vui cũng như ngôn ngữ trở nên giàu có. Khi mối quan hệ thiết lập với ngôn ngữ là xấu thì có dùng nó để viết được một thư xin việc, một luận án tiến sỹ thành công hoặc tán đổ được người yêu thì cuộc sống chung với ngôn ngữ vẫn bức bối. Ngôn ngữ, nó nên là một người bạn tốt. Bạn có thể cho rằng làm chủ ngôn ngữ thì tốt hơn và bạn thích cách tư duy công cụ. Như thế thì chừng nào bạn chưa làm chủ được ngôn ngữ, chừng ấy bạn còn hậm hực. Tôi nhận thấy mình chẳng bao giờ làm chủ ngôn ngữ được. Có nó làm chủ mình thì có. Trong đời sống tôi luôn phải nghe người khác nói rằng ngôn ngữ là một thứ công cụ và lối diễn ngôn đó đã gây cho tôi những tổn thương sâu sắc, điều mà tôi sẽ đề cập ở entry sau.

3. Giao tiếp, ngôn ngữ và văn

Dạy (và học) giao tiếp, dạy ngôn ngữ hay dạy văn là những phạm trù rất khác nhau mà tại đó đối tượng quan tâm chính của ta là khác nhau. Dù thực tế việc dạy giao tiếp, dạy ngôn ngữ và dạy văn có thể trùng nhau nhưng khi chúng ta có đối tượng quan tâm chính khác nhau thì cần nghĩ và diễn ngôn theo những cách khác nhau, chứ vẫn quy tất cả về một cái khung “ngôn ngữ là công cụ của giao tiếp” thì dùng những từ ngữ khác nhau để làm gì?

Khi người ta dạy giao tiếp với mục đích duy trì hoặc nâng cao địa vị xã hội thì ấy là dạy lễ nghi ngôn ngữ xã hội để khớp cho vừa những cái khuôn đúc sẵn. Khuôn đúc cho người nông dân sẽ xấu hơn, nhỏ hơn khuôn đúc cho nhà văn, nhà thơ. Lấy cái gì làm trọng thì xin hãy nêu tên cái đó cho chính danh. Có người bàn về đổi mới dạy văn và đề xuất là biến nó thành dạy lễ nghi ngôn ngữ xã hội để tăng cường tính thực tiễn. Tất nhiên lễ nghi ngôn ngữ xã hội là thực tiễn nhưng quy đối tượng lại hẹp như thế tôi e rằng không xứng với từ “văn”.

Với tôi “văn” là một từ vượt ra ngoài ngôn ngữ và giao tiếp. Dạy văn còn bao hàm dạy cho người ta có khả năng không dùng ngôn ngữ. Đấy là một khả năng tuyệt vời! Đây cũng sẽ là một nội dung mà tôi sẽ đề cập ở phía sau của loạt bài viết này.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s