Phân biệt nghiên cứu khoa học và nghiên cứu nhân văn (Kỳ 1)

Mời các bạn đọc Kỳ 2Kỳ 3.

Lời ngỏ

Bài viết “Một Luận Văn Mơ Hồ và Sai Lầm” đăng trên Văn Nghệ số 28 (2787) ra ngày 13 tháng 7 năm 2013 của Ban Lý Luận Phê Bình đánh giá rằng luận văn thạc sỹ “Vị Trí Của Kẻ Bên Lề: Thực Hành Thơ Của Nhóm Mở Miệng Từ Góc Nhìn Văn Hóa” của Đỗ Thị Thoan (Nhã Thuyên) thiếu tính khách quan của khoa học trong cách thức triển khai nghiên cứu cũng như trình diễn một thứ ngôn ngữ khoa trương, không rõ ràng chặt chẽ, không phù hợp với văn phong khoa học. Vâng, theo nhận định của tôi, luận văn của Đỗ Thị Thoan không phải là một nghiên cứu khoa học.  Nói ra điều này không có nghĩa là tôi hưởng ứng bài viết. Trái lại, tôi không thấy giá trị của việc phê phán một công trình nghiên cứu theo hướng nhân văn là không khoa học. Hành động đó giống như việc phê phán một người là hỏng vì người ấy là con gái chứ không phải là con trai, là da trắng chứ không phải da màu. Trong bài viết này tôi không tham vọng bảo vệ luận văn thạc sỹ ấy mà chỉ muốn chia sẻ rằng học thuật không chỉ có nghiên cứu khoa học mà còn có nghiên cứu nhân văn. Theo tôi, dùng từ “khoa học” để chỉ nghiên cứu học thuật nói chung đe dọa những đường hướng mang tính nhân văn/nghệ thuật.

Giải thích các thuật ngữ rất dễ rơi vào yêu cầu giải thích bất tận bởi khi nói về một thuật ngữ này thường sẽ cần dùng tới những thuật ngữ khác cũng nên được giải thích. Cách giải thích của tôi chỉ là một trong nhiều khả thể. Tôi thừa nhận mình tránh giới thiệu một số thuật ngữ mà sự hiểu biết chúng có thể làm sáng rõ nhiều vấn đề được nói tới song việc giải thích chúng lại vượt quá khả năng viết của tôi tại thời điểm này. Một số khái niệm được nhắc tới trong bài là những khái niệm khó, có nhiều nghĩa và lịch sử phức tạp- tôi chưa thể bàn luận tường tận. Hiểu biết của tôi còn hạn chế, mà trình bày hết những điều mình biết cũng là không thể. Tôi chỉ gói ghém câu chữ làm sao cho ra được một ý rằng trong học thuật khoa học không phải là tất cả. Bài viết này không chỉ là sự đối đáp với Ban Lý Luận Phê Bình của báo Văn Nghệ. Nó còn là lời trần tình với những ai đang dùng từ “khoa học” cho tất cả các hoạt động nghiên cứu, không chỉ trong lĩnh vực văn chương.

Tôi sẽ không dùng nhiều trích dẫn, nhưng xin bày tỏ lòng biết ơn tới tác giả tôi gặp gỡ đầu tiên khi mới tìm hiểu về nghiên cứu học thuật, Michael Crotty, và những triết gia sau này ảnh hưởng sâu sắc tới cách tôi hiểu về học thuật, Michel Foucault, Jacques Rancière và Lynn Fendler.

Bài viết sẽ được đăng thành 3 kỳ. Kỳ 1 là những mô tả chung về vấn đề tôi quan tâm. Kỳ 2 bàn về nghiên cứu khoa học. Kỳ 3 nói tới nghiên cứu nhân văn, tính học thuật của nghiên cứu và trình bày lời kết. Người viết mong bạn đọc kiên nhẫn, rộng lượng và chờ những trao đổi thiện chí.

 Phân Biệt Nghiên Cứu Khoa Học và Nghiên Cứu Nhân Văn

1. Những Mô Tả Chung

1.1. Tính Thời Thượng và Sự Lấn Át của “Nghiên Cứu Khoa Học”

Trong dụng ngôn thông thường ở Việt Nam từ “nghiên cứu” hay đi kèm với từ “khoa học.” Rất nhiều phòng ban, hội thảo, tác phẩm nghiên cứu vượt ra ngoài khuôn khổ của nghiên cứu khoa học hoặc không phải là nghiên cứu khoa học vẫn tự định danh cho mình bằng cụm từ ấy. Bìa 1 luận văn của Đỗ Thị Thoan có dòng: LUẬN VĂN THẠC SỸ: KHOA HỌC NGỮ VĂN. Từ “khoa học” ở đây có nghĩa gì? Tôi không rõ Khoa Ngữ Văn trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội, Việt Nam hay là “phương Đông” đã sáng tạo nghĩa từ “khoa học” khác với nghĩa từ “science” của “phương Tây” như thế nào[1]. Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, “khoa học” đã trở thành một đơn vị ngôn ngữ được lưu chuyển rộng rãi khắp các quốc gia và nghĩa phổ biến của nó đang bị quy định bởi văn minh phương Tây. Bài viết này làm việc với nghĩa phổ biến của “khoa học” trong nghiên cứu học thuật trên thế giới.

Tôi tưởng tượng rằng tất cả các nghiên cứu ở Đại Học Sư Phạm Hà Nội và nhiều trường đại học đầu ngành khác ở Việt Nam, ít nhất là trong các thủ tục hành chính, đều gọi là “nghiên cứu khoa học.” Vị thế nổi bật của khoa học trong xã hội hiện đại khiến cho “nghiên cứu khoa học” trở nên thời thượng và lấn át. Đây không phải là hiện tượng chỉ có ở Việt Nam. Tại Mỹ, người ta rất ít dùng cụm từ “scientific research” (nghiên cứu khoa học) nhưng từ “research” (nghiên cứu) cũng thường được ngầm gắn với tính khoa học. Tuy vậy, nghiên cứu học thuật trong các ngành xã hội không chỉ có nghiên cứu khoa học. Nó còn có thể mang tính nhân văn/nghệ thuật. Năm 2009, Hiệp Hội Nghiên Cứu Giáo Dục Hoa Kỳ AERA đưa ra chuẩn báo cáo nghiên cứu hướng nhân văn cho ngành giáo dục và theo đó thuật ngữ “nghiên cứu hướng nhân văn” (humanities oriented research) dùng để chỉ “các loại hình nghiên cứu quen thuộc được dùng trong các lĩnh vực như lịch sử, triết học mà rõ ràng không phù hợp với các chuẩn khoa học xã hội cũng như các đường hướng mới nổi trong nghiên cứu giáo dục không xác định với các ngành nhân văn truyền thống” (Xem tr. 481 tại đây).

1.2. “Khoa Học Xã Hội” và “Nhân Văn” (Không Phải là “Khoa Học Nhân Văn”)

Chúng ta đang ở Việt Nam chứ không phải là ở Mỹ, nhưng tôi dám chắc giới học thuật Việt Nam đã phát triển nghiên cứu nhân văn cùng với nghiên cứu khoa học. Chúng ta có trường “Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn”, được dịch sang tiếng Anh là “University of Social Sciences and Humanities.” Những người coi khoa học là bao trùm tất cả các hoạt động học thuật của con người có thể áp “khoa học” lên “nhân văn”, và dịch “humanities” thành “khoa học nhân văn”, một cách dịch khá phổ biến, được sử dụng trong nhiều từ điển uy tín. Cũng có thể cách dịch này đến từ một thói quen ngôn ngữ: khi “khoa học xã hội” đi kèm với “nhân văn” và từ “nhân văn” thường đứng sau thì người ta dễ cho rằng ngành xã hội và ngành nhân văn cùng nền tảng khoa học và chỉ khác nhau về đối tượng nghiên cứu. Theo tôi được biết, nếu nói tới tính khoa học thì song song với khoa học xã hội là khoa học tự nhiên chứ không phải là nhân văn. Khi nói tới đối tượng nghiên cứu là các hoạt động xã hội của con người thì song song với khoa học xã hội (cách tiếp cận khoa học) là nhân văn (cách tiếp cận nhân văn).

Nếu từ “khoa học” bao trùm tất cả các hoạt động học thuật thì hẳn là nó không thể chỉ có tính khách quan như Ban Lý Luận Phê Bình báo Văn Nghệ quan niệm. Dẫu ai đó có gọi nhân văn là “khoa học nhân văn” đi nữa thì những thực hành nghiên cứu ở những ngành học thuật như nghiên cứu văn học so với các ngành hướng khoa học xã hội như tâm lý học, ngôn ngữ học không chỉ có những khác biệt về đối tượng mà còn về cách thức nghiên cứu cũng như các tiền giả định mà nhà nghiên cứu nương tựa. Những khác biệt này cần được thừa nhận chứ không phải là bị quy thành lỗi không đúng chuẩn mực của khoa học.

Như cách nói của giới “nghiên cứu và phê bình” văn học Việt Nam thì luận văn của Đỗ Thị Thoan thiên về phê bình, và phê bình cũng thuộc địa hạt của nghiên cứu, nếu “nghiên cứu” được hiểu theo nghĩa rộng, chỉ những hoạt động tìm tòi có ý thức của con người. Nếu hiểu “nghiên cứu” theo nghĩa hẹp, quy về “khoa học”, thì vẫn còn từ “phê bình” mở ra một không gian làm việc tại đó người viết có quyền thể hiện góc nhìn và phong cách viết cá nhân, không hướng tới sự xác lập chân lý mà tới các giá trị đạo đức hoặc/và thẩm mỹ.

Trên thế giới, những đường hướng học thuật nhân văn tự tách mình khỏi nhận thức luận khoa học. Nói một cách khác, có một cách nhìn, một cách dụng ngôn hiện nay đang có giá trị vì nó phản ánh thực tế cũng như mong muốn của nhiều người trong giới học thuật: nghiên cứu khoa học và nghiên cứu nhân văn là khác nhau. Theo cách nhìn và cách dụng ngôn đó, nghiên cứu khoa học hướng tới chân lý (truth) còn nghiên cứu nhân văn hướng tới hiệu quả giao tiếp (effect), các giá trị đạo đức (morality) hoặc/và thẩm mỹ (aesthetics). Có thể hiểu nghiên cứu theo nhân văn là nghiên cứu không chịu sự quy định của các chuẩn khoa học.

Các ngành học thuật xã hội thường được gọi tên dựa trên đối tượng nghiên cứu của chúng và theo cách gọi tên như vậy hầu như không có ngành nào nằm gọn trong cách tiếp cận khoa học hay nhân văn. Phân chia các ngành học thuật thành ngành xã hội và ngành nhân văn chỉ là sự đơn giản hóa và mang tính bối cảnh.

Có những ngành thiên về khoa học như kinh tế học, tâm lý học, ngôn ngữ học, v.v., nhưng cũng có những ngành rộng mở hơn. Người ta có thể tiếp cận triết học, lịch sử, văn học, giáo dục, nhân chủng học theo hướng khoa học hay theo hướng nhân văn. Triết học phân tích (analytic philosophy) thiên về khoa học logic[2] còn triết học lục địa (continental philosophy) mang tính nhân văn nhiều hơn. Ngôn ngữ của các triết gia thuộc trường phái triết học lục địa như Nietzsche, Foucault hay Rancière là thứ ngôn ngữ giàu chất thơ. Viết sử dựa trên các cứ liệu khách quan, thông qua các quy trình khách quan và hướng tới các chân lý khách quan chỉ là một trong những đường lối của sử học. Hayden White, một sử gia người Mỹ, đã trở nên tiếng tăm với quan niệm viết sử giống như viết văn. Theo ông tác phẩm sử học có thể phân chia thành các thể loại giống như các tác phẩm văn học nghệ thuật.

Tại mỗi thời điểm-không gian học thuật cụ thể có thể có một đường hướng nghiên cứu nổi trội hơn. Nghiên cứu văn học, cùng với triết học và sử học, từ xưa tới nay vẫn được xếp vào nhóm ngành nhân văn/nghệ thuật vì chúng rộng mở với các đường hướng nhân văn/nghệ thuật.[3] Tuy nhiên ở Mỹ, hiện tại phương pháp luận khoa học lấn át hơn trong tất cả các ngành học thuật xã hội- trừ nghiên cứu văn học. Nếu coi văn học là một đối tượng nghiên cứu quy định sự hình thành và phát triển của ngành nghiên cứu văn học thì ngành nghiên cứu này rõ tính đa ngành (multidisciplinarity) và liên ngành (interdisciplinarity). Lý thuyết và thực hành của nó giao với lý thuyết và thực hành của các ngành học thuật khác như triết học, sử học, xã hội học, tâm lý học, ngôn ngữ học v.v. Theo phân loại thông thường, xã hội học, tâm lý học và ngôn ngữ học là các ngành khoa học trong khi đó triết học và sử học nằm trong nhóm ngành nhân văn/nghệ thuật. Dựa trên cách thức nghiên cứu văn học ứng xử với đối tượng nghiên cứu của mình, người ta có thể xếp các tác phẩm nghiên cứu văn học vào các ngành đã kể, nhưng thao tác này nhiều khi không cần thiết và không thực hiện được.

Theo thực tế học thuật ở Việt Nam, các khoa ngữ văn thường có hai mảng ngôn ngữ và văn học. Mảng ngôn ngữ học mang tính khoa học còn mảng nghiên cứu và phê bình văn học (theo nghĩa phân biệt với ngôn ngữ học) không được đặc trưng bởi tính khoa học mà đón nhận nhiều đường hướng khác nhau. Văn phong của nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học thành công là thứ văn phong có sức quyến rũ riêng biệt chứ không phải là thứ ngôn ngữ sản xuất hàng loạt theo các khung khổ.

Ngay trong những lĩnh vực mà phương pháp luận khoa học hiện chiếm ưu thế các tổ chức học thuật và cá nhân các học giả vẫn không ngừng nỗ lực tạo không gian cho những đường hướng nhân văn/nghệ thuật. Việc xuất bản bộ chuẩn nghiên cứu định hướng nhân văn năm 2009 của Hiệp Hội Nghiên Cứu Giáo Dục Hoa Kỳ AERA là một ví dụ. Cuối năm 2010, đầu năm 2011, Hiệp Hội Nghiên Cứu Nhân Chủng Học Hoa Kỳ AAA đã loại bỏ từ “khoa học” trong nhiều đoạn văn bản về tầm nhìn của tổ chức và khẳng định sức mạnh của nhân chủng học nằm ở sự liên lạc giữa các ngành khoa học và nhân văn (xem tại đâyđây). Không có những động thái tương tự trong ngành nghiên cứu và phê bình văn học ở các nước phát triển có lẽ bởi khoa học chưa từng lấn át ngành này.

(Còn tiếp)


[1] Theo trao đổi với những người bạn hiểu biết về từ nguyên học, “khoa học” vốn là từ mượn tiếng Nhật (có thể xem bài viết về từ Hán Việt gốc Nhật của Trần Đình Sử tại đây). Người Nhật dịch “science” thành “kagaku” (khoa học), người Trung Quốc mượn lại của người Nhật, rồi người Việt đọc tân thư đầu thế kỷ 20. Từ “khoa học” cũng từng được phong kiến Trung Quốc dùng với nghĩa “học vấn thi cử.” Trong bài viết này, tôi xin không bàn về lịch sử phát triển của học thuật Á Đông.

[2] Tùy thuộc vào góc nhìn mà nhánh triết học nghiên cứu logic có được coi là khoa học hay không. Có quan điểm cho rằng triết học không phải là khoa học vì khoa học phải là nghiên cứu thực nghiệm (empirical studies) dựa trên các dữ liệu thực nghiệm (empirical data) nhưng bài viết này không khung khổ khái niệm “khoa học” theo quan điểm đó. Khái niệm “dữ liệu thực nghiệm” hiện nay có nhiều nghĩa khác nhau, cần đến một công trình triết học riêng biệt để bàn về nó, nên ở phần trình bày về nghiên cứu khoa học tiếp theo tôi cũng không chọn cách nói về khoa học mà phải xử lý khái niệm này.

[3] Nhân văn khác với nghệ thuật như thế nào? Có nhiều đáp án khác nhau và không loại trừ nhau vì chúng phản ánh những góc nhìn khác nhau. Đáp án A: không phân biệt. Các trường đại học của Mỹ thường dùng từ “nghệ thuật” (arts) để nói về nhân văn (humanities). Nhiều trường đại học tổng hợp có hai trường thành viên là College of Social Science (Đại Học Khoa Học Xã Hội) và College of Art (Đại Học Nghệ Thuật), với các khoa như triết học, lịch sử, văn học và nghệ thuật. Đáp án B: có sự phân biệt dựa trên phương tiện làm việc- nhân văn làm việc với ngôn từ còn nghệ thuật làm việc với các phương tiện vật chất khác. Đáp án C: có sự phân biệt dựa trên tính sáng tác-trình diễn hay học thuật. Các ngành nghệ thuật thiên về sáng tác-trình diễn còn các ngành nhân văn thiên về học thuật. Cách phân biệt này cũng chỉ là tương đối vì tính sáng tác-trình diễn và tính học thuật không tách biệt nhau- hoặc chỉ tách biệt nhau theo nhận thức luận khoa học. Trong bài viết này tôi chọn từ “nhân văn” (mà không làm việc với từ “nghệ thuật”) và nói tới nghiên cứu học thuật theo truyền thống đang dựa trên ngôn từ và chưa được coi như là các sáng tác nghệ thuật nhưng đang chứng kiến nhiều nỗ lực cởi bỏ những hạn chế này.

4 thoughts on “Phân biệt nghiên cứu khoa học và nghiên cứu nhân văn (Kỳ 1)

  1. Ừ, lâu nay cũng hơi nhơ nhớ ra là Hà Thanh chơi với Nhã Thuyên mà… Cứ tiếp tục biến điệu những gì mà cô quan tâm đi nhé. Rất sẵn lòng đọc, về sau…–

    • Cảm ơn anh. Em chơi với Nhã Thuyên nên được biết về luận văn và người viết, nhưng em viết hướng tới các vấn đề chung. Em biết anh không hiểu nhầm, nhưng cứ phải ghi ra thế này🙂

  2. “Trái lại, tôi không thấy giá trị của việc phê phán một công trình nghiên cứu theo hướng nhân văn là không khoa học” câu này hình như thừa một chữ “không”.

  3. Pingback: Phân biệt nghiên cứu khoa học và nghiên cứu nhân văn | Văn Việt

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s