Bình đẳng giới

Các phong trào bình đẳng nói chung đấu tranh cho sự khác biệt, cho quyền được tự do và hạnh phúc. Bình đẳng không những không phải là mà còn có nghĩa trái ngược hoàn toàn với sự đòi hỏi tất cả trở nên giống nhau. Bình đẳng là để mỗi cá nhân đều độc đáo và không bị thay thế. “Bình đẳng giới” không có nghĩa là giống nhau về giới hay các giới tính khác nhau phải trở nên giống nhau. Nếu “bình đẳng giới” chỉ tới sự giống nhau giữa các giới thì ấy là quyền được tôn trọng như nhau, được làm người theo mong muốn của mình, không bị hạn chế bởi những khuôn khổ chật hẹp, cứng nhắc của xã hội. Xét một cụm từ khác, “bình đẳng về tài chính” có nghĩa là giống nhau về mặt tài chính, song cũng không nhất thiết phải giống nhau về lượng mà có khi chỉ cần giống nhau về cách thức, ví như nguyên tắc góp tiền vừa sức của mình, ai có ít góp ít, ai có nhiều góp nhiều. Tôi không biết sự quy nghĩa của bình đẳng thành giống hệt nhau (cả về chất lẫn lượng) xuất phát từ đâu, nhưng với tôi đó rõ ràng là sự tạo nghĩa hẹp hòi. Mô hình xã hội bình đẳng dựa trên khái niệm bình đẳng như là sự giống nhau về cả chất lẫn lượng đã không còn chỗ đứng. Không cần phải bám vào cái nghĩa bình đẳng hẹp hòi đó mà phủ nhận những nỗ lực đấu tranh cho sự khác biệt, sự bình đẳng về quyền được tự do và hạnh phúc đang diễn ra khắp thế giới.

Trong xã hội ngày nay, người ta hay đưa ra các con số thống kê về sự chênh lệch giữa nam và nữ (vd: khoảng cách thu nhập) để đặt ra vấn đề bình đẳng. Tôi hiểu rằng những so sánh đó cho thấy giới hạn của xã hội, và có những người muốn thách thức những giới hạn đó, muốn một xã hội mà sự khác nhau không phụ thuộc vào giới tính, chứ không phải muốn rằng ai cũng phải giống nhau hay mỗi người đàn bà cụ thể cần phải giống như đàn ông (vd: cũng phải kiếm tiền nhiều bằng). Trên thực tế, bình đẳng giới trong ngành giáo dục đã có những bước chuyển khá ngoạn mục. Nhìn chung trên thế giới, việc nhập học ở các cấp học ngày càng ít phụ thuộc vào giới tính. Đặc biệt ở các nước phát triển, thống kê còn cho thấy nam có xu hướng thiệt thòi hơn nữ về cơ hội học tập. Tình trạng này cũng khiến người ta phải để tâm tìm hiểu văn hóa nhà trường trong mối quan hệ với giới tính.[1]

Bình đẳng không có mục đích đặt ra chuẩn mực rằng mỗi cá nhân phải cư xử như nhau, đạt được thành tựu như nhau. Bình đẳng là đòi hỏi xây dựng một xã hội thông thoáng và cởi mở sao cho cuộc sống của con người gắn với khát khao khám phá, khát vọng hạnh phúc hơn là các yếu tố như giai cấp, giới tính, màu da, tuổi tác, thậm chí là năng lực.[2] Trong lịch sử và trên thực tế, những người cùng chung giai cấp, giới tính, màu da, tuổi tác, v.v. có thể có những kinh nghiệm hay đặc điểm giống nhau. Điều đó được tôn trọng, nhưng sự tôn trọng này rất khác với việc cho rằng người ta phải khớp vào một số hình mẫu nhất định cho mỗi nhóm. Trong khi sự quy cách sống và số phận con người vào giới tính và gán cho giới tính một số đặc điểm cố định hạn chế sự khác biệt và ảnh hưởng xấu tới đời sống của những người không hoặc không muốn khớp vào khuôn khổ, sự cởi trói giới tính không ngăn cấm việc bạn lựa chọn đặt cược đời mình vào các yếu tố giới tính. Bình đẳng giới cũng tôn trọng niềm tự hào của bạn về tính nam hay tính nữ của mình.

Vâng, “BĐG không phải để đực hoá người đàn bà, hay vinh danh cô ấy trong tư cách ‘làm được những việc tương tự đàn ông’.” Nó cũng không phải là sự “đày ải đàn bà trong thứ huân huy chương giả dối và kêu leng keng vô nghĩa.” Và nó cũng không phải là “đàn bà phải mềm mượt, ngọt ngào, nồng ấm, nũng nịu.” Đàn bà có thể sống theo trăm ngàn cách. Đàn ông cũng vậy. Người ta có thể không phải là đàn ông mà chẳng phải là đàn bà, trên cơ sở sinh học hay là do lựa chọn. Người ta sống khác nhau và đều có quyền được tự do, hạnh phúc. Kiểu “đàn bà ích kỷ, phù phiếm, yêu bản thân” thường bị xã hội lên án, và tôi cho rằng cổ xúy cho mẫu đàn bà như vậy có giá trị nhất định, song không thể quy “ích kỷ, phù phiếm, yêu bản thân,” cùng với sự “mềm mượt, ngọt ngào, nồng ấm, nũng nịu” thành căn tính của phụ nữ.[3]

Chú thích

[1] Có thể xem báo cáo về bình đẳng giới trong giáo dục bản tiếng Anh của OECD (bài 1, bài 2), Bộ Giáo Dục Mỹ (bài 3) và một số tạp chí phổ thông (bài 4). Việt Nam cũng có những thành tựu đáng kể về bình đẳng giới (bài 5).

[2] Hiện nay trên thế giới còn có sự chống lại tính hợp lẽ meritocracy và ablism (những quan niệm cho rằng cơ hội sống và phát triển khác nhau cần dựa trên năng lực). Người ta cho rằng năng lực gắn với các vấn đề về văn hóa và thiết kế xã hội.  Những bài kiểm tra về năng lực thường được dựa trên hình mẫu về năng lực của một nền văn hóa, gây bất lợi cho các nền văn hóa khác. Thiết kế xã  hội cần được thay đổi để những người có những đặc điểm khác nhau đều có thể tham gia và có cơ hội thành công, hạnh phúc.

[3] Ở đoạn văn này, phần trong ngoặc kép được trích dẫn trực tiếp từ status Facebook Nguyễn Quỳnh Hương, một status phản hồi lại ý kiến của một số độc giả cho rằng bài viết “Làm đàn bà” của bạn ấy đi ngược lại với phong trào bình đẳng giới.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s