Thơ Tố Hữu

Tôi không phải người hay hoài cổ. Tôi yêu thích những điều mới mẻ, không có vấn đề gì với nghệ thuật đương đại hay văn học nước ngoài. Cứ thanh minh như thế trước khi thú nhận: tôi thuộc nhiều thơ … Tố Hữu. Bởi nói ra là tôi thích thơ Tố Hữu, có thể một số người (trong cộng đồng “trí thức tinh hoa” mà tôi vẫn gặp) chê là lạc hậu, nghi ngờ thẩm mỹ của tôi.

Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh
Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về

Tôi thích những câu thơ này không phải vì chúng giữ lại những âm thanh của một thời đã xa. Tôi quý mến sự nghe ấy, thấy nó gần với mình. Tôi cũng biết: Tố Hữu và tôi khác nhau. Ông ấy hoạt động năng nổ và ào ạt. Sự lắng nghe và nghe thấy ấy diễn ra khi ông, lúc đó là một thanh niên, bị bỏ tù. Tình huống ở trong nhà ngục của Tố Hữu khiến tôi lưu tâm về một cảnh ngộ, của một cá nhân cũng như xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.

Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
Hiu quạnh bên trong một tiếng hò
Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh
Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!

phan-tich-bai-tho-nho-dong-cua-to-huu

Nguồn Ảnh

Mấy câu này thì sến, tôi cũng sến sẩm, cơ mà thấy ngạc nhiên về bản thân mình. Tôi sinh ra và lớn lên ở một khu nhà tập thể trong nội thành Hà Nội, chẳng bao giờ nghe thấy tiếng hò, chỉ nhìn thấy ruộng đồng lướt qua những ô cửa kính của cái xe chở đám học sinh chúng tôi đi tham quan. Mà tôi rất ít khi đi đâu, cũng không có tivi mà xem. Đến năm lớp 10 về Chuyên Ngữ học, ra vùng ngoại ô, đi chơi nhà bạn, tôi đạp xe ven các cánh đồng lúa và mới biết mùi hương của chúng. Thế mà từ trước đó, tôi đã lưu trong tâm trí mình giọng hò và ruộng đồng quê, một đất nước của mình, không phân biệt với những đất nước khác không phải của mình. Đất và nước và tiếng người. Tôi có là gà công nghiệp thì cũng có khả năng đồng/thấu cảm với gà quê.

Bầm ơi có rét không bầm
Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run

Mẹ tôi là tiểu tư sản thành thị, dù mẹ làm nhiều việc vất vả, tôi chưa từng gắn hình ảnh của mẹ với việc cấy lúa, và tôi cũng chưa từng phải cấy lúa bao giờ. Nhưng tôi không hề thấy mình xa lạ với người con và người mẹ trong bài thơ.

Còn nữa:

Con chim sẻ sẻ mới ra đời
Hôm qua nó hãy còn bay nhảy
Chỉ một ngày giam đã chết rồi

Tôi đọc những dòng này trên bảng đen của các anh chị học lớp buổi sáng, đến thời của tôi đã không còn bài này trong sách giáo khoa. Nhưng chỉ gặp gỡ lần ấy thôi là nhớ, cái chết của một con chim nhỏ bé là một sự kiện quan trọng. Bao nhiêu người vẫn cứ thích nhốt những con chim đang tự do vào lồng, hàng ngày đem cho chúng một ít thóc, để cho chúng xơ xác rồi chết. Tôi cứ nghĩ nếu mà họ gặp gỡ với thơ Tố Hữu, họ sẽ để tâm nhiều hơn tới sự tự do, không bắt và nhốt các loài chim đang bay nhảy.

Thơ Tố Hữu giản dị thế thôi, rõ ràng, bình dân, khỏe khoắn, tích cực, nhiệt thành, say sưa, đôi khi hào sảng và đẹp đẽ.

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một là một vườn cây lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Trong mấy câu này, tôi loại “từ ấy” và “mặt trời chân lý chói qua tim.” Tôi biết thứ mặt trời bình thường vẫn chiếu sáng, cây xanh quang hợp ánh sáng mặt trời… Và tôi có lúc thấy trái tim mình “bừng nắng hạ,” “rất đậm hương và rộn tiếng chim.” Hoặc có khi nó nhen nhóm những yêu thương:

Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về

Bạn giảng cho tôi người yêu và người thương khác nhau như thế nào: “Người yêu ở phía trên là gắn với không gian lãng mạn, mơ màng, còn người thương thì khác—ấy là không gian trong cái nhìn gắn với hiện thực, với vất vả, gió sương. Khi mường tượng về người yêu thì đôi khi tưởng tượng của mình có sự tạo dựng để thỏa mãn trạng thái của mình, nên thấy mình là nhiều. Còn với người thương thì mình có sự để ý, nhìn ra người ta, nên cái nhìn có sự thấy người ta.”

Người chê thơ Tố Hữu hay trích thơ “nịnh Đảng.” Tôi cũng biết, nhưng đấy là một chuyện khác. Tôi không nghĩ mình bị “tẩy nảo.” Mà giả dụ tôi, như một đứa trẻ ngây thơ không có sức kháng cự, đã đón nhận những “thông điệp tuyên truyền” gì đó từ thơ Tố Hữu, thì ấy là: sự lắng nghe, lòng yêu thương, khát vọng tự do, và một tinh thần bừng nắng hạ.

Tố Hữu không phải là nhà thơ tôi yêu thích, nhưng tôi thích khá nhiều câu thơ của ông (dù không thích cả một bài nào). Nếu toàn thơ kiểu Tố Hữu trong chương trình Văn phổ thông thì tôi chết ngộp mất, nhưng rất may Tố Hữu chỉ là một trong rất nhiều giọng thơ được giới thiệu. Tôi cần một giọng thơ như thế.

Khóa học Toàn Cầu Hóa & Nghiên Cứu Quốc Tế

Xin giới thiệu với các bạn một khóa học của Khoa Ngôn Ngữ và Văn Hóa Các Nước Nói Tiếng Anh, ĐHNN, ĐHQGHN.

gis-vietnamese-poster-smaller

 

THƯ MỜI

Khoa Ngôn Ngữ và Văn Hóa Các Nước Nói Tiếng Anh, Đại Học Ngoại Ngữ, ĐHQGHN, xin gửi tới bạn lời mời tham dự khóa học Toàn Cầu Hóa và Nghiên Cứu Quốc Tế, đề cương được gửi kèm theo thư này (trang sau). Khóa học nằm trong các hoạt động trao đổi học thuật của tổ Đất Nước Học, đơn vị chính sẽ phụ trách các môn học thuộc định hướng quốc tế học cho cử nhân tiếng Anh của trường Đại Học Ngoại Ngữ, ĐHQGHN từ năm học 2017-2018.

Gồm 12 buổi, dự kiến sẽ diễn ra từ giữa tháng 10 năm 2016 tới giữa tháng 2 năm 2017 ở Hà Nội, khóa học phù hợp với bất cứ ai muốn tìm hiểu về sự tạo dựng các xã hội. Chúng tôi sẽ rất vui nếu bạn có thể tham gia khóa học này, như một chuyên gia hay chỉ đơn giản như một người ham hiểu. Bạn có thể theo đuổi cả khóa hoặc chỉ chọn tham dự những chủ đề mình quan tâm.

Nếu bạn thấy hứng thú và muốn tham gia khóa học, hãy điền vào form đăng ký theo đường link này: https://goo.gl/J8Olhz. Chúng tôi trông đợi những buổi nói chuyện, những kết nối nhiều ý nghĩa và giàu có.

Trân trọng,
TS. Đỗ Thị Thanh Hà, Trưởng Khoa
TS. Phùng Hà Thanh, Giảng viên thiết kế và điều phối

NỘI DUNG KHÓA HỌC
Toàn Cầu Hóa và Nghiên Cứu Quốc Tế
Ngôn ngữ: Tiếng Anh và tiếng Việt
Học phí: Đóng góp tự nguyện
Sỹ số: 15–30 người
Thời gian:  14:00 –16:30, 01 buổi/tuần 
Thứ Năm hàng tuần 
(Với các buổi trong năm 2016)
Buổi đầu tiên diễn ra vào 20 tháng 10 năm 2016
Địa điểm:  516, Tòa nhà B2
Khoa Ngôn Ngữ và Văn Hóa Các Nước Nói Tiếng Anh
Trường Đại Học Ngoại Ngữ, Đai Học Quốc Gia Hà Nội
Số 1 Đường Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội
ĐĂNG KÝ THAM GIA:  Điền form https://goo.gl/J8Olhz
Các liên hệ khác:  Email: internationalstudies.ulis@gmail.com
Phone: 0915215184 (Thư ký khóa học: Lại Thị Thanh Vân)

Lý thuyết không phải là thứ đưa con người vào tháp ngà tách biệt với đời sống xanh tươi mà là những thực hành tạo dựng ra thế giới mà ta đang sống. Trong khóa học này, các bạn sẽ xem lại ý nghĩa và tác động của những cách hình dung thông thường về xã hội, gặp gỡ những lý thuyết gia nổi tiếng về chính trị, kinh tế, văn hóa thuộc các trường phái khác nhau, soi chiếu các hiện tượng quốc tế và toàn cầu dưới nhiều góc độ, chất vấn cảm quan cá nhân của bản thân, phát triển khả năng giảng dạy và nghiên cứu quốc tế học, gặp gỡ những người bạn, v.v.

Buổi 1 — Giới thiệu về nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu xã hội đường hướng phê phán

  • Lịch sử hình thành đất nước học, khu vực học, quốc tế học và nghiên cứu toàn cầu
  • Tính đa ngành, liên ngành, và trong ngành của nghiên cứu học thuật
  • Cách hiểu tính phê phán theo tâm lý học nhận thức, triết học phân tích, chủ nghĩa Marx, ngữ dụng học, Michel Foucault, và Jacques Rancière
  • Phát triển tư duy phê phán trong các lớp học đất nước học và quốc tế học

Buổi 2 — Toàn cầu hóa: Các ẩn dụ, ý nghĩa, và lý thuyết

  • Các ẩn dụ phổ thông về toàn cầu hóa: thế giới phẳng, ngôi làng toàn cầu, mạng, đế chế, thực tại ảo
  • Giới thiệu chung các lý thuyết học thuật về toàn cầu hóa: thể chế, hệ thống, văn hóa và diễn ngôn
  • Lý thuyết toàn cầu hóa của và Manuel Castells, Michael Hardt và Antonio Negri, Arjun Appadurai

Buổi 3 — Các nền văn minh, văn hóa, xung đột và sự tiến bộ

  • Lý thuyết về sự xung đột giữa các nền văn minh của Samuel Huntington và những phê phán của Edward Said
  • Khái niệm tiến bộ và sự tạo lập trật tự thế giới

Buổi 4 — Giàu có và nghèo đói: Những lý giải khác nhau

  • Lý giải sự giàu có và nghèo đói dựa trên các yếu tố về địa lý, thể chế, và thị trường: Tranh luận giữa Daron Acemoglu & James Robinson với Jared Diamond, Bill Gates
  • Deirdre McCloskey và lý thuyết về vai trò của phẩm giá của giai cấp tư sản
  • Các đường hướng chống/giải thực dân chủ nghĩa

Buổi 5 — Cứu trợ quốc tế và Ngành công nghiệp đói nghèo

  • Các vấn đề đặt ra từ trường hợp của Haiti: Xem và thảo luận phim Poverty Inc.

Buổi 6 — Chủ nghĩa tân tự do: Tính doanh nhân, công dân và chủ nghĩa dân tộc, bình đẳng và bất bình đẳng

  • Lịch sử chủ nghĩa tân tự do
  • Các diễn ngôn nổi trội của chủ nghĩa tân tự do

Buổi 7 — Chủ nghĩa tân tự do ở Việt Nam

  • Chủ nghĩa tân tự do trong các chương trình truyền hình ở Việt Nam

Buổi 8 — Khủng hoảng tài chính: Sự lên ngôi và sụp đổ của thị trường tài chính Mỹ

  • Sự tạo lập thị trường tài chính: thời gian, tiền bạc và văn hóa trừu tượng hóa
  • Xem và thảo luận phim The Big Short

Buổi 9 — Chuẩn hóa và xếp hạng quốc tế trong giáo dục

  • Trào lưu cải cách giáo dục theo hướng chuẩn hóa trên toàn cầu
  • OECD và các bài thi quốc tế (PISA và AHELO)

Buổi 10 — Sự toàn cầu hóa tiếng Anh

  • Chính sách ngôn ngữ/tiếng Anh của các quốc gia
  • Những hiện tượng tiếng Anh trong quá trình toàn cầu hóa

Buổi 11 — Chủ nghĩa tư bản và các vấn đề môi trường

  • Xem và thảo luận phim The True Cost

Buổi 12 — Những lời kết

Giảng viên thiết kế và điều phối: TS. Phùng Hà Thanh chuyên về triết học, các đường hướng phê phán trong khoa học xã hội, nhân văn và nghệ thuật. Yêu thích Rancière và Foucault, cô quan tâm tới sự hình thành và sáng tạo các cộng đồng dựa trên tính bình đẳng hoặc bất bình đẳng, các cách thức con người tạo dựng bản thân mình.

Mời học tiếng Anh

course-a-blog
Nước Mỹ: Cơ Hội và Thách Thức
(Tiếng Anh để phát triển cá nhân và xã hội)

Khóa học này mời bạn làm giàu tiếng Anh của mình thông qua việc khám phá một số vấn đề của nước Mỹ, cả truyền thống và đương đại. Nó phù hợp với học sinh phổ thông trung học trở lên, đã có trình độ tiếng Anh kha khá (IELTS ≥ 6.0) và muốn sự hỗ trợ của một giảng viên, một cộng đồng để có thể kết nối với và sử dụng tiếng Anh thường xuyên và tốt hơn.* Không làm việc trực tiếp với các kỹ năng thi cử nhưng khóa học sẽ hữu ích cho các nhiệm vụ tiếng Anh thực tiễn của bạn, bao gồm cả việc vượt qua những kỳ thi. Khóa học không nhằm cung cấp các chỉ dẫn cụ thể để đến và sống tại nước Mỹ; nó đem lại những cái nhìn tổng quan và đầu mối để bạn có thể tự tìm hiểu và ra quyết định của mình. Khóa học tập trung vào các hoạt động nghe nói và tư duy phê phán, và vì thế cũng hỗ trợ các kỹ năng đọc, viết, từ vựng.

Giảng viên: Phùng Hà Thanh (Tiến sỹ, tốt nghiệp Michigan State University, Mỹ, chuyên về giảng dạy tiếng Anh, lý thuyết và triết học giáo dục, giáo dục so sánh và quốc tế; có thể xem hồ sơ giảng viên tại https://vnu-vn.academia.edu/ThanhPhung hoặc tại đây)

Thời gian: Thứ Ba và Thứ Sáu, Lớp buổi sáng: 8:30 – 11:30 và Lớp buổi chiều 17:45 – 20:45
Địa điểm: Phòng 1007 (tầng 10), tòa nhà C Vinaconex, Ngõ 1 đường Trần Thái Tông, Cầu Giấy Hà Nội
Sỹ số: Khoảng 08-10 người
Thời lượng: 15 buổi (45 giờ)
Học phí: 3.900.000 VND
* Không nhận học viên là sinh viên chuyên tiếng Anh, Đại Học Ngoại Ngữ, Đại Học Quốc Gia Hà Nội

ĐĂNG KÝ HỌC: Điền vào form đăng ký theo học: http://goo.gl/7jYSIF. Form này yêu cầu bạn sử dụng tiếng Anh để cung cấp thông tin về bản thân. Đây cũng là bài kiểm tra đầu vào của khóa học nên người đăng ký cần dành thời gian để trả lời các câu hỏi cẩn thận. Các thông tin tiếp theo sẽ được gửi qua email. Trước khi khóa học bắt đầu, giảng viên sẽ phỏng vấn học viên để hiểu học viên rõ hơn và sắp xếp lớp học phù hợp nhất

Nội dung khóa học

Module 1: Các thói quen học ngôn ngữ cần thiết lập

  • Các nguồn tài nguyên để học tiếng Anh
  • Các loại từ điển và cách dùng từ điển
  • Lập kế hoạch học tập

Module 2: Văn hóa nói năng của Mỹ

  • Dẫn luận về phát âm tiếng Anh
  • Các loại hình trình diễn nói: bài giảng, bài nói chuyện, tranh luận, thơ slam, kể chuyện, tấu hài, v.v.
  • Người nói yêu thích: Chọn những người nói yêu thích và luyện tập nghe nói theo họ
  • Dạng thức nói yêu thích: Chọn những dạng thức trình diễn nói yêu thích và luyện tập

Module 3: Hệ thống giáo dục

  • Định vị giáo dục Mỹ
  • Đọc hiểu các bảng xếp hạng
  • Lựa chọn trường học ở Mỹ: Các vấn đề văn hóa, danh tiếng và tài chính
  • Tận dụng cơ hội và phòng tránh bẫy khi đi học

Module 4: Lịch sử nhập cư

  • Làn sóng nhập cư qua các thời kì
  • Lịch sử chiếm hữu nô lệ và các vấn đề của người Mỹ gốc Phi
  • Cộng đồng người Việt ở Mỹ

Module 5: Tôn giáo

  • Tôn giáo và sự tạo dựng nước Mỹ

Module 6: Thiên nhiên trong đời sống Mỹ

  • Thiên nhiên trong văn học Mỹ
  • Những thói quen trong cách đối xử với thiên nhiên của người Mỹ
  • Các phong trào bảo vệ môi trường

Module 7: Bầu cử và những khuôn mặt khác nhau của dân chủ

  • Hệ thống chính trị ở Mỹ
  • Đọc hiểu một chiến dịch chính trị: Đảng, quy trình, thông điệp và định vị
  • Các vấn đề chính trong bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016

Module 8: Trình diễn

  • Viết, lên kịch bản trình diễn nói
  • Trình diễn nói
  • Liên hoan với bạn bè và gia đình

Lớp học được mở mỗi khi có đủ người đăng ký. Rất mong sự tham gia của bạn. Nếu bạn có câu hỏi về khóa học, xin để lại comment ở dưới bài này hoặc hoặc gửi email về atopiaedu@gmail.com.

Cập nhật: Câu hỏi thường gặp

Khi nào lớp học bắt đầu và kết thúc?

Lớp học được mở khi có đủ người gia. Hi vọng lớp đầu tiên sẽ mở được vào cuối tháng 10 năm 2016.
Khóa học gồm 15 buổi, mỗi tuần 2 buổi, nên sẽ diễn ra trong hơn hai tháng (có từ 1-3 tuần đệm trước buổi trình diễn cuối cùng, phụ thuộc vào mong muốn của học viên).

Khi nào là hạn nộp bài Pre-test?

Bạn nộp Pretest càng sớm thì càng tốt, để người tổ chức khóa học biết có những ai hứng thú. Nếu bạn thay đổi lịch làm việc của mình và vì thế ảnh hưởng đến thời gian tham gia khóa học thì sau khi đã nộp Pre-test bạn có thể viết thư thông báo về thay đổi này gửi đến atopiaedu@gmail.com.

 

 

Thư gửi hiệu trưởng Trần Linh Thước

Là một người nghiên cứu lịch sử Phương Pháp Luận Sáng Tạo ở Việt Nam, tôi thấy mình cần lên tiếng về mâu thuẫn giữa lãnh đạo trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên, Đại Học Quốc Gia tp. Hồ Chí Minh và thầy Phan Dũng, người đã gây dựng và phát triển môn học  tại trường từ năm 1977 (Xem bài trên Thanh Niênbài trên Dân Trí). Tôi xin đăng dưới đây bức thư tôi gửi hiệu trưởng Trần Linh Thước. Tới thời điểm hiện giờ, tôi vẫn chưa nhận được hồi âm. Nội dung bức thư thể hiện hiểu biết cũng như mối quan tâm của tôi, không thể phản ánh đầy đủ những sự việc đã diễn ra. Bức thư có nhiều thông tin liên quan đến vụ kiện giữa thầy Dũng và lãnh đạo trường, song cá nhân tôi không bình luận về vụ kiện mà chỉ quan tâm tới sự hiện diện của những ứng xử với trí thức.

__________

Letter to the President

Thanh Hà Phùng

1142 ½ Lilac Avenue

East Lansing, MI – 48823 USA

Ngày 01 tháng 06 năm 2016

GS. TS. Trần Linh Thước

Hiệu trưởng trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên, Đại Học Quốc Gia tp. Hồ Chí Minh

227 đường Nguyễn Văn Cừ, Quận 5, tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam

 

Kính gửi GS. TS. Trần Linh Thước, Hiệu trưởng trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên (ĐH KHTN), Đại Học Quốc Gia tp. Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM).

Tôi là Phùng Hà Thanh, viết thư này với tư cách một nhà nghiên cứu giáo dục đã và sẽ làm việc với PGS. TSKH. Phan Dũng, nguyên cán bộ của trường, và Trung Tâm Sáng tạo Khoa Học Kỹ Thuật, một đơn vị trực thuộc trường, khi tìm hiểu lịch sử phát triển Phương Pháp Luận Sáng Tạo ở Việt Nam.

  1. Đặt Vấn Đề

Mùa hè năm 2015, khi là nghiên cứu sinh chương trình tiến sỹ ngành Chương Trình, Giảng Dạy, và Giáo Dục Giáo Viên[1] tại trường Đại Học Bang Michigan,[2] Hoa Kỳ, tôi đã về Việt Nam, gặp gỡ PGS. TSKH. Phan Dũng (sau đây được gọi là thầy Phan Dũng) và các cán bộ đang làm việc tại Trung Tâm Sáng Tạo Khoa Học Kỹ Thuật (sau đây được gọi là trung tâm TSK) để thu thập dữ liệu cho chương 3 trong luận án tiến sỹ của tôi. Chương này tìm hiểu lịch sử phát triển Phương Pháp Luận Sáng Tạo ở Việt Nam dưới góc nhìn diễn ngôn. Tôi đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ vào ngày 12 tháng 5 năm 2016. Sự phát triển Phương Pháp Luận Sáng Tạo ở Việt Nam là đề tài nghiên cứu tôi sẽ tiếp tục theo đuổi trong những năm tới và sẽ có những công bố đại chúng (phim tài liệu, bài viết trên blog cá nhân) cũng như học thuật (báo cáo tại hội thảo, bài báo trên các tạp chí học thuật, chương sách).

Tôi biết tới thầy Phan Dũng và quyết định nghiên cứu về sự nghiệp của ông bởi thầy Phan Dũng là một trí thức, nhà giáo dục đã được công nhận bởi cộng đồng chuyên môn cũng như xã hội về những đóng góp của ông cho sáng tạo học và giáo dục sáng tạo. Sáng tạo là vấn đề quan trọng trong thế kỷ thứ 21, được coi là yếu tố then chốt của phát triển. Thầy Phan Dũng nổi tiếng với việc xây dựng và phát triển sáng tạo học và giáo dục sáng tạo theo trường phái TRIZ. TRIZ là một hệ thống lý thuyết khoa học khái quát hóa các mẫu bài toán và mẫu giải pháp từ thực tiễn các sáng chế đã được cấp bằng và cơ sở tri thức của nhiều ngành như tâm lý học sáng tạo, điều khiển học, lý thuyết hệ thống, lịch sử khoa học và công nghệ, quá trình tiến hóa và phát triển của các hệ sinh học, v.v. TRIZ  đã được nghiên cứu và sử dụng tại nhiều nơi trên thế giới. Gần đây, TRIZ gắn với sự trỗi dậy của tập đoàn công nghiệp điện tử Samsung. Hiện tượng TRIZ tại Việt Nam là một hiện tượng độc đáo, có ý nghĩa cả về lý thuyết và thực tiễn.

Trong thời gian nghiên cứu, tôi biết tới mâu thuẫn giữa thầy Phan Dũng và lãnh đạo trường ĐH KHTN, ĐHQG-HCM—hiệu trưởng Trần Linh Thước và trưởng phòng Tổ Chức Hành Chính (TCHC) Phan Ngô Hoang—liên quan đến những đánh giá của lãnh đạo trường về quá trình công tác của thầy tại trường khi xét kéo dài thời gian làm việc của thầy. Mâu thuẫn này thể hiện thành những khiếu nại của thầy Phan Dũng ở cấp trường, cấp ĐHQG, rồi sau đó là vụ kiện ở Tòa Án Nhân Dân Quận 5, tp. Hồ Chí Minh. Với tư cách là người nghiên cứu, đã tìm hiểu các tài liệu về quá trình phát triển của trung tâm TSK và sự nghiệp của thầy Phan Dũng, tôi quan tâm tới sự hiện diện của những ứng xử với cống hiến của thầy Phan Dũng trong xã hội Việt Nam. Tôi có trách nhiệm lên tiếng về những điều tôi dự định sẽ công bố có liên quan tới mâu thuẫn giữa thầy Phan Dũng và lãnh đạo trường. Mâu thuẫn này là một sự kiện trong lịch sử phát triển Phương Pháp Luận Sáng Tạo ở Việt Nam, có thể ảnh hưởng đến tương lai của sáng tạo học và giáo dục sáng tạo ở Việt Nam.

Tôi tin rằng những tài liệu liên quan trực tiếp tới mâu thuẫn giữa thầy Phan Dũng và lãnh đạo trường mà tôi được tiếp cận không phải tài liệu mật. Trong thư này, trước hết, tôi sẽ tập trung vào những dữ kiện lịch sử có tính khách quan. Trong những điều tôi trình bày ở Mục 2 dưới đây, nếu có những dữ kiện nào không đúng sự thật hoặc chưa đầy đủ cần bổ sung, tôi mong quý trường phản hồi. Nếu tôi không nhận được phản hồi của quý trường trước 1 tháng 8 năm 2016, tôi coi những dữ kiện ở Mục 2 là đúng đắn và sẽ công bố chúng. Ở Mục 3, tôi sẽ trình bày một số điều tôi cho là quan trọng trong ứng xử với những đóng góp của thầy Phan Dũng.

  1.  Các Dữ Kiện Lịch Sử

Một là, từ năm 1991 (khi trung tâm TSK được thành lập và thầy Phan Dũng trở thành giám đốc trung tâm theo quyết định 50.91/QLKH ngày 23/04/1991 của hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp tp. Hồ Chí Minh Nguyễn Ngọc Giao) đến năm 2014, các hoạt động đào tạo, xuất bản và truyền thông của thầy Phan Dũng luôn gắn liền với trung tâm TSK, một đơn vị trực thuộc trường, đóng góp và ảnh hưởng tới sự nghiệp, uy tín của trường, không phải chỉ là những hoạt động liên quan đến tên tuổi cá nhân. Sự đóng góp và ảnh hưởng này là đáng kể:

Xét về mặt đào tạo: Đến năm 2014, trung tâm TSK do thầy Phan Dũng làm giám đốc đã mở hơn 450 khóa học Phương Pháp Luận Sáng Tạo, dạy cho hơn 20.000 người trên phạm vi cả nước. Ngoài ra, trung tâm TSK đã đưa môn Phương Pháp Luận Sáng Tạo vào một số chương trình đào tạo cử nhân và thạc sỹ của nhà trường trong những bối cảnh khác nhau, tuy môn học chưa được thiết lập bền vững trong hệ thống chương trình cho sinh viên và học viên cao học của trường. Những thành tựu về đào tạo mà trung tâm TSK đã đạt được phù hợp với sứ mệnh của  trường, một trường đại học không mang tính thương mại mà phục vụ phát triển nhân lực quốc gia, đặc biệt là “phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân” (theo Nghị quyết Hội nghi lần thứ tám Ban chấp  hành Trung ương Đảng khóa XI tháng 10 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo).

Xét về mặt xuất bản:  Đến năm 2014, thầy Phan Dũng đã xuất bản nhiều cuốn sách về Phương Pháp Luận Sáng Tạo bằng tiếng Việt qua các nhà xuất bản chính thống, đáng kể nhất là bộ sách Sáng Tạo và Đổi Mới gồm 10 quyển,[3] được xuất bản bởi  NXB Trẻ tp. Hồ Chí Minh năm 2010 (từ quyển 1 đến quyển 7) và NXB Đại Học Quốc Gia tp. Hồ Chí Minh năm 2012 (từ quyển 1 đến quyển 10). Những ấn phẩm này đã đến được với nhiều người. Việc làm rõ số lượng bản in, số lượng đã bán không phải là nhiệm vụ của thầy Phan Dũng. Những công trình được xuất bản này đều phục vụ nhiệm vụ phát triển Phương Pháp Luận Sáng Tạo của trung tâm TSK và được xuất bản khi thầy Phan Dũng là cán bộ của trung tâm. Trước khi tập trung vào việc viết và xuất bản bộ sách Sáng Tạo và Đổi Mới bằng tiếng Việt, từ năm 1991 đến năm 2002, thầy Phan Dũng đã báo cáo tại nhiều hội thảo quốc tế cũng như có các bài báo, chương sách xuất bản bằng tiếng Anh với danh nghĩa là giám đốc trung tâm TSK, đóng góp vào tên tuổi của quý trường ở tầm quốc tế.

Xét về mặt truyền thông: Thầy Phan Dũng đã xuất hiện nhiều lần trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam (trên 100 bài báo ở các tạp chí phổ thông khác nhau và đặc biệt là chương trình Người Đương Thời của VTV 1 – Người Gieo Mầm Sáng Tạo, phát sóng ngày 10/06/2007) rõ ràng và trực tiếp với tư cách là giám đốc của trung tâm TSK.

Hai là, trong quá trình xét thời gian làm việc với thầy Phan Dũng, trường ĐH KHTN, ĐHQG-HCM đã để lộ nhiều thiếu sót trong quản lý nhân sự.

Kể từ khi trung tâm TSK được thành lập năm 1991 và thầy Phan Dũng trở thành giám đốc của trung tâm, Khoa Vật lý – Vật lý Kỹ thuật đã không còn giao nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu cho thầy Phan Dũng, nhưng trong một số văn bản của nhà trường, thầy Phan Dũng vẫn được ghi là cán bộ của Khoa Vật lý – Vật lý Kỹ thuật. Trong Công văn số 1556/ĐHQG ra ngày 27/08/2014 về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của PGS. TSKH Phan Dũng, giám đốc ĐHQG-HCM Phan Thanh Bình, đã nêu rõ những thiếu sót của trường ĐH KHTN trong quản lý nhân sự. Điều 3 có ghi như sau:

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên chưa có sự phân định rõ ràng PGS. TSKH Phan Dũng là người của Khoa Vật lý – Vật lý Kỹ thuật, hay là người của Trung tâm Sáng tạo Khoa học – Kỹ thuật, hay ở vị trí kiêm nhiệm. (…)

Không xác định rõ được nhiệm vụ của PGS. TSKH Phan Dũng nói riêng và Trung tâm Sáng tạo Khoa học – Kỹ thuật nói chung.

Không giao nhiệm vụ cho PGS. TSKH Phan Dũng  cũng như không đặt ra các chỉ tiêu cần đạt được cho Trung tâm Sáng tạo Khoa học – Kỹ thuật, vì thế chưa có cơ sở để đánh giá cán bộ hoàn thành hay chưa hoàn thành nhiệm vụ.

Công văn số 631/KHTN-TCHC về việc phúc đáp công văn số 1556/ĐHQG của hiệu trưởng Trần Linh Thước gửi giám đốc ĐHQG-HCM ngày 29/08/2014 đã xác nhận những thiếu sót trên: “Về công tác quản lý cán bộ như đã đề cập trong Công văn 1556/ĐHQG, Trường ĐH KHTN sẽ rút kinh nghiệm để công tác quản lý của trường trong thời gian tới được tốt hơn.”

Ba là, từ khi trường ĐH KHTN tiến hành xét kéo dài thời gian công tác đợt 2/2014 trong buổi họp Ban Giám Hiệu (BGH) ngày 22/04/2014 tới thời điểm tôi viết thư này (01/06/2016), kết quả đánh giá về quá trình công tác của thầy Phan Dũng không thống nhất nhưng lãnh đạo trường chưa có văn bản gửi thầy chính thức nhìn nhận thiếu sót trong quá trình đánh giá và xin lỗi thầy.

Theo Báo cáo của trưởng phòng TCHC ghi ngày 21/04/2014 và Biên bản họp BGH số 102/TCHC ghi ngày 22/04/2014, quá trình công tác của thầy Phan Dũng tại trường “không có đóng góp gì cho nhà trường.” Sau những khiếu nại của thầy Phan Dũng, bản ý kiến phản biện của trường ghi ngày 21/07/2014 (đính kèm Biên bản đối thoại ngày 22/07/2014) khẳng định: “trong giai đoạn phát triển của nhà trường từ năm 1996 đến nay và đặc biệt là trong giai đoạn thực hiện chiến lược phát triển 2011-2015 tầm nhìn 2020 thì bản thân Ông Phan Dũng và TSK  không có đóng góp đáng kể cho sự phát triển chung của nhà trường.” Công văn số 631/KHTN-TCHC về việc phúc đáp Công văn số 1556/ĐHQG của hiệu trưởng Trần Linh Thước gửi giám đốc ĐHQG-HCM Phan Thanh Bình ngày 29/08/2014 xác nhận thầy Phan Dũng có những đóng góp đáng ghi nhận và trân trọng về lĩnh vực Sáng tạo Khoa học – Kỹ thuật: “Trường ĐH KHTN ghi nhận và rất trân trọng những đóng góp của PGS. TSKH. Phan Dũng về lĩnh vực Sáng tạo Khoa học– Kỹ thuật (như đưa các môn học về Sáng tạo Khoa học– Kỹ thuật vào giảng dạy cho sinh viên của Trường cũng như các học viên trên phạm vi cả nước, xuất bản các tài liệu, sách… có liên quan).” Những thay đổi này là hệ quả của quá trình khiếu nại của thầy Phan Dũng ở cấp trường và cấp ĐHQG. Nếu những điều ghi trong trong Công văn số 631/KHTN-TCHC là đúng đắn, khẳng định rằng thầy Phan Dũng “không có đóng góp gì cho nhà trường” với một nhóm cán bộ của trường và với chính thầy là hành động gây tổn hại danh dự, dù hành động này là cố ý hay không, các văn bản liên quan có được công bố rộng rãi hay không.

Khi sự việc được đem ra Tòa Án Nhân Dân Quận 5, đến phiên tòa ngày 29/04/2016, đại diện của trường ĐH KHTN  vẫn khẳng định kết luận rằng thầy Phan Dũng “không có đóng góp gì cho nhà trường” là có cơ sở vững chắc và không đồng ý cải chính các nội dung đã nêu trong các văn bản liên quan. Theo cách hiểu thông thường, ngay cả khi các nội dung của một văn bản đánh giá có cơ sở vững chắc, nếu kết quả đánh giá chung là sai (vì các cứ liệu chưa đầy đủ hoặc/và chưa có tiêu chí đánh giá rõ ràng), thì vẫn cần những cải chính nhất định. Điều này đặt ra câu hỏi: Kết luận cuối cùng của trường ĐH KHTN về đóng góp của thầy Phan Dũng với trường là gì? Mặc dù việc kéo dài thời gian làm việc của cán bộ là dựa theo nhu cầu hiện tại của trường chứ không phải là những đóng góp đã qua của cán bộ,  việc đánh giá quá trình công tác của thầy Phan Dũng tại trường là quan trọng với thầy và đã trở thành một vấn đề được dư luận xã hội quan tâm.

Sự thiếu nhất quán trong đánh giá đóng góp của thầy Phan Dũng với trường tự nó bao hàm những thiếu sót và sai lầm. Những phiền toái gây ra cho thầy Phan Dũng bởi những thiếu sót và sai lầm này là có thật: thầy phải bỏ công sức để khiếu nại và thưa kiện. Những thay đổi trong cách dùng từ và kết quả đánh giá của trường đối với quá trình công tác của thầy Phan Dũng chưa đi kèm văn bản gửi thầy để nhìn nhận những thiếu sót, sai lầm và xin lỗi chính thức.

Bốn là, cho tới phiên toàn diễn ra ngày 29/04/2016, đại diện của trường ĐH KHTN giữ quan điểm rằng “phần lớn” những công trình ghi trong lý lịch khoa học tự khai của thầy Phan Dũng chưa phải là công trình nghiên cứu khoa học. Kết luận này không dựa trên quá trình tổ chức đánh giá những công trình này theo đúng chuyên môn và bối cảnh cụ thể mà dựa trên sự “dễ dàng nhận thấy” phần lớn các công trình này không đủ điều kiện và không được xem là công trình nghiên cứu khoa học theo “quy định của pháp luật.”

Quy định của pháp luật được viện dẫn bởi ông Nguyễn Văn Kha, đại diện được trường ĐH KHTN ủy quyền trong vụ án với thầy Phan Dũng, trong bản tóm tắt thông tin vụ án ghi ngày 26/06/2015 và nộp cho Tòa Án Nhân Dân Quận 5 là khoản 3, Điều 7 [Quy định về nghiên cứu khoa học] Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo quy định chế độ làm việc với giảng viên: “Mỗi năm, giảng viên phải hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được giao tương ứng với chức danh hoặc vị trí công tác đang đảm nhiệm. Kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên được đánh giá thông qua các  sản phẩm nghiên cứu khoa học cụ thể, tối thiểu là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở hoặc tương đương được nghiệm thu từ đạt yêu cầu trở lên hoặc một bài báo được công bố trên tạp chí khoa học có phản biện hoặc một báo cáo khoa học tại hội thảo chuyên ngành.”

Tôi xin lưu ý rằng thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT ra ngày 31/12/2014, tức là sau khi BGH trường ĐH KHTN đã đưa ra những đánh giá về hoạt động nghiên cứu khoa học của thầy Phan Dũng (báo cáo của trưởng phòng TCHC ghi ngày 21/04/2014, biên bản BGH số 102/TCHC ghi ngày 22/04/2014 và bản ý kiến phản biện của trường ĐH KHTN với những khiếu nại của thầy Phan Dũng ghi ngày 21/07/2014). Thông tư này cũng gắn việc công bố kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên với các nhiệm vụ được giao. Trong suốt 23 năm từ 1991 đến 2014, trước khi lãnh đạo trường đưa ra những nhận định về quá trình công tác của thầy Phan Dũng khi họp xét kéo dài thời gian làm việc với cán bộ đợt 2 năm 2014, thầy chưa bao giờ nhận được đánh giá là không hoàn thành nhiệm vụ.Trước khi thầy Phan Dũng khiếu nại về đánh giá của trường với quá trình công tác của ông, trường đã không xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá chính thức cho hoạt động mang tính đặc thù của trung tâm TSK cũng như của thầy Phan Dũng (theo công văn số 1556/ĐHQG ra ngày 27/08/2014 về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của PGS. TSKH Phan Dũng, giám đốc ĐHQG-HCM gửi hiệu trưởng ĐH KHTN). Lãnh đạo trường ĐH KHTN chưa xác định rõ nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của thầy Phan Dũng và các tiêu chí để công nhận công trình nghiên cứu khoa học trước khi đánh giá thành tựu khoa học của ông.

Năm là, cho tới thời điểm tôi viết thư này, trường ĐH KHTN không có nhu cầu kéo dài thời gian làm việc với thầy Phan Dũng. Công văn số 631/KHTN-TCHC của hiệu trưởng Trần Linh Thước gửi giám đốc ĐHQG-HCM ngày 29/08/2014 giải thích trường không có nhu cầu vì không mở được lớp dạy Phương Pháp Luận Sáng Tạo cho sinh viên chính quy và học viên cao học của trường cũng như hoạt động quản lý của thầy Phan Dũng với tư cách là giám đốc trung tâm TSK không đạt được hiệu quả mong muốn. Tôi sẽ nhắc tới những lập luận này trong công bố của mình và lưu ý về những vấn đề trong quá trình nhà trường triển khai quy trình xét điều kiện thời gian làm việc đối với trường hợp của thầy Phan Dũng như được ghi trong Công văn số 1556/ĐHQG ra ngày 27/08/2014 về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của PGS. TSKH. Phan Dũng, giám đốc ĐHQG-HCM gửi hiệu trường ĐH KHTN: Chưa nói lên được quan điểm và xác định rõ nhu cầu của Nhà trường đối với lĩnh vực Khoa học Sáng tạo – Kỹ thuật và chưa có đánh giá đúng mức đóng góp của PGS. TSKH. Phan Dũng cũng như vai trò của Trung tâm Sáng tạo Khoa học – Kỹ thuật với đơn vị.

  1. Về Việc Ứng Xử Với Trí Thức

Cá nhân tôi không phải người có liên quan trực tiếp tới quyết định sử dụng nhân sự của trường hay những mâu thuẫn về hành chính và pháp lý giữa thầy Phan Dũng và lãnh đạo trường. Tôi viết thư này không phải để đưa ra những nhận định cuối cùng về những hoạt động và quyết định của nhà trường. Tôi hiểu rằng thầy Phan Dũng là một trường hợp đặc biệt, nhiều sự việc không mong muốn đã xảy ra, và quản lý cán bộ là một công việc phức tạp và khó khăn. Nhìn một cách tổng quan, dự án nghiên cứu lịch sử Phương Pháp Luận Sáng Tạo của tôi đề cập tới rất nhiều vấn đề, không nhằm tập trung vào mâu thuẫn giữa thầy Phan Dũng và lãnh đạo trường ĐH KHTN, ĐHQG-HCM. Tuy nhiên, là một nhà nghiên cứu lịch sử, tôi có trách nhiệm đề cập tới mâu thuẫn này trong những công bố của tôi. Tôi đã trình bày năm mảng dữ kiện lịch sử tôi dự định đưa vào những công bố của mình ở Mục 2, mong nhận được sự phản hồi của quý trường.

Ở phần kết này, tôi cũng sẽ trình bày một số vấn đề tôi cho là quan trọng trong ứng xử với những cống hiến của trí thức nói chung và thầy Phan Dũng nói riêng.

Tôi biết tới thầy Phan Dũng và những thành tựu nổi bật của ông trong sáng tạo học và giáo dục sáng tạo qua cộng đồng chuyên môn cũng như các phương tiện thông tin đại chúng. Nếu lãnh đạo trường quan tâm tới lĩnh vực Sáng tạo Khoa học – Kỹ thuật và sâu sát trong quản lý nhân sự thì đã/sẽ biết tới, ghi nhận và trân trọng những thành tựu này. Công văn số 631/KHTN-TCHC của hiệu trưởng Trần Linh Thước gửi giám đốc ĐHQG-HCM ngày 29/08/2014 đã thể hiện sự ghi nhận và trân trọng của trường ĐH KHTN với những đóng góp của thầy Phan Dũng trong lĩnh vực Sáng tạo Khoa học – Kỹ thuật. Tôi tin rằng sự ghi nhận và trân trọng này không nên chỉ dừng lại ở báo cáo với ĐHQG-HCM mà còn cần được khẳng định với thầy Phan Dũng cũng như những người quan tâm trong xã hội.

Tôi cũng cho rằng quản lý hoạt động học thuật/khoa học của một trí thức, bao gồm việc đánh giá thành tựu học thuật/khoa học của trí thức đó, cần dựa trên những đặc điểm đặc thù của lĩnh vực chuyên môn của người đó trong những bối cảnh lịch sử cụ thể. Phương Pháp Luận Sáng Tạo ở Việt Nam cần nhận được sự quan tâm đặc biệt vì những đặc điểm riêng của nó. Khác với các bộ môn khoa học truyền thống, Phương Pháp Luận Sáng Tạo là lĩnh vực còn mới mẻ, nằm ở chỗ giao của nhiều ngành, đã phát huy nhiều lợi ích thực tiễn cũng như có rất nhiều tiềm năng nhưng chưa có hệ thống tiêu chuẩn học thuật/khoa học quốc tế cũng như quốc gia một cách rõ ràng.

Xét theo lịch sử khoa học hiện đại, phải đến giữa những năm 1990, ngành sáng tạo học (creativity studies) mới thực sự bắt đầu lộ diện và phát triển trên thế giới. Các công trình xuất bản bằng tiếng Anh của thầy Phan Dũng từ năm 2002 trở về trước đã chứng tỏ uy tín và sự đi đầu của thầy trong ngành khoa học non trẻ này. Sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế với uy tín và sự đi đầu của thầy Phan Dũng thể hiện cụ thể ở việc thầy có 03 báo cáo chính (keynote speeches) tại các hội thảo quốc tế về TRIZ và 06 bài báo, chương sách được ban biên tập mời (invited articles).

Kể từ năm 2003, thầy Phan Dũng tập trung vào viết và xuất bản bộ sách 10 quyển Sáng Tạo và Đổi Mới bằng tiếng Việt, và bộ sách này đã được chính NXB Đại Học Quốc Gia tp. Hồ Chí Minh xuất bản năm 2012. Đây là một công trình lớn, nhưng trường ĐH KHTN không công nhận công trình này đã đủ điều kiện là công trình nghiên cứu khoa học. Theo tôi hiểu, nhà trường không tự động có nghĩa vụ tổ chức xét giá trị khoa học/học thuật cho bất cứ công trình nào cán bộ của trường làm ra. Thêm vào đó, nhà trường không tự động công nhận vị thế học thuật/khoa học của các tác phẩm được xuất bản bởi NXB Đại Học Quốc Gia tp. Hồ Chí Minh. Những điều này có thể phù hợp với nguyên tắc cũng như bối cảnh làm việc của nhà trường. Tuy nhiên, tôi tin rằng nếu trường đặt ra và giao tiếp rõ ràng hơn với thầy Phan Dũng về nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của thầy và các tiêu chí để xác định một công trình là nghiên cứu khoa học thì việc đánh giá thành tựu khoa học của thầy Phan Dũng mới có ý nghĩa. Ngay cả khi một số tác phẩm đã xuất bản của thầy Phan Dũng chưa có hội đồng đánh giá về chất lượng khoa học để được các cấp quản lý tính là công trình khoa học, tôi thiết nghĩ cần thể hiện sự trân trọng với các tác phẩm này. Trong thực tế, ở Việt Nam chưa có tạp chí khoa học chuyên ngành và hội thảo khoa học chuyên ngành nào về TRIZ hay sáng tạo học. Trường ĐH KHTN cần lưu ý tới đặc điểm này khi giao và đánh giá nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho các giảng viên của trung tâm TSK.

Tôi đã nhiều năm theo đuổi lĩnh vực sáng tạo học và giáo dục sáng tạo và đặc biệt tập trung trong 05 năm tôi học tiến sỹ tại Hoa Kỳ. Bộ 10 quyển Sáng Tạo và Đổi Mới của thầy Phan Dũng là một trong những bộ sách đầy đủ và hệ thống nhất về sáng tạo học trên thế giới tôi được biết. Những công trình thầy Phan Dũng đã xuất bản tổng hợp kiến thức của nhiều ngành, dựa trên nhiều tác giả, nhưng đã hình thành một hệ thống lý luận của riêng mình. Việc giảng dạy Phương Pháp Luận Sáng Tạo cho hơn 20.000 người ở Việt Nam cũng là một thành tựu đặc biệt tôi chưa từng thấy ở nơi nào khác. Tôi chưa phải là một nhà nghiên cứu đã thành danh, song đánh giá của tôi về đóng góp của thầy Phan Dũng với ngành sáng tạo học và giáo dục sáng tạo sẽ được công bố trong các hoạt động tiếp theo của tôi. Tôi viết thư này thông báo cho quý trường biết về hoạt động nghiên cứu của tôi với thầy Phan Dũng và trung tâm TSK trực thuộc quý trường. Nếu nhà trường có nhu cầu tìm hiểu về lĩnh vực Phương Pháp Luận Sáng Tạo và những cống hiến về mặt lý luận cũng như thực tiễn của thầy Phan Dũng, tôi sẵn sàng chia sẻ.

Tôi cho rằng việc đánh giá một nhân vật trí thức đặc biệt trong những bối cảnh lịch sử cụ thể không phải là dễ dàng, cần đầu tư nhiều công sức để gây dựng các tiêu chí đánh giá phù hợp hơn là dựa vào những tiêu chí chung chung hoặc các con số cụ thể nhưng không gắn liền với những tiêu chí đã xác định trước. Cách quý trường ứng xử với một nhân vật có tên tuổi và đóng góp được xã hội thừa nhận như thầy Phan Dũng ảnh hưởng đến không chỉ danh dự cá nhân của thầy mà còn là uy tín của nhà trường cũng như tâm tư của những thế hệ trí thức muốn cống hiến cho đất nước.

Mọi liên hệ với tôi xin gửi về địa chỉ tôi ghi ở đầu thư hoặc email phungtha@msu.edu.

Người viết thư ký tên

Phùng Hà Thanh

[1] Tên tiếng Anh là Curriculum, Instruction and Teacher Education.

[2] Tên tiếng Anh là Michigan State University.

[3] Quyển 1: Giới thiệu: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới; Quyển 2: Thế giới bên trong con người sáng tạo; Quyển 3: Tư duy lôgích, biện chứng và hệ thống; Quyển 4: Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản: Phần 1; Quyển 5: Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản: Phần 2; Quyển 6: Các phương pháp sáng tạo; Quyển 7: Các quy luật phát triển hệ thống (các quy luật sáng tạo và đổi mới); Quyển 8: Các hệ thống chuẩn dùng để giải các bài toán sáng chế; Quyển 9: Algôrít giải các bài toàn sáng chế (ARIZ); Quyển 10: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới: Những điều muốn nói thêm.

Toàn cầu hóa

Những người dân bỏ phiếu cho Anh ra khỏi Liên Minh Châu Âu và cho Trump thành ứng viên tổng thống ở Mỹ hầu hết đều muốn chặn nhập cư và hi vọng là sẽ có được việc làm.

Làn sóng nhập cư  vào các nước Âu, Mỹ, Canada hiện nay gắn liền với tình trạng bất ổn, chiến sự ở các nước Hồi giáo vùng Trung Đông. Có thể kể ra một vài điểm nóng: Nhà Nước Hồi Giáo thành lập trên lãnh thổ Syria và một phần Iraq (ISIS) gây ra chiến tranh và khủng bố trong thời gian vừa rồi là sản phẩm trực tiếp từ chiến tranh Iraq do Mỹ phát động (điều này không còn là vấn đề bàn cãi). Mỹ can thiệp vào Iraq và sau đó là Lybia lật đổ chính quyền độc tài của Saddam Hussein và Muammar Gaddafi đã dẫn đến tình trạng loạn lạc ở hai nước này. Hai nước này đều đang tan rã. Loạn lạc ở Afghanistan kéo dài triền miên; chiến tranh giữa những người cộng sản thân Liên Xô và thế lực của Mỹ ở đây cũng khiến hàng triệu dân phải chết, chính quyền Najibullah thống nhất đất nước chỉ được trong vài ba năm (1989-1992), đến cuối năm 1994 Taliban nổi lên, bị đánh bại, rồi lại nổi lên, rồi lại bị đánh bại. Tham chiến của Mỹ ở Afghanistan chỉ mới chính thức kết thúc vào 28/12/2014 . Có thể dễ thấy các chính quyền độc tài không tốt đẹp gì ở nhiều khía cạnh, nhưng mỗi nước có một hoàn cảnh khác nhau, cũng như có nhiều biện pháp đấu tranh chống độc tài khác nhau. Áp đặt các tiêu chuẩn của nền dân chủ kiểu tư bản phương Tây một cách bạo lực chắc chắn gây ra những vấn đề  lớn. Obama phát biểu rằng điều ông ân hận nhất là đã gây chiến ở Lybia, không ngờ lại để lại tình trạng loạn lạc như thế. Có lương tâm thì ân hận, nhưng tình trạng để lại như thế là hoàn toàn có thể dự báo trước.

Các nền văn minh ở các khu vực địa lý khác nhau phát triển không đồng đều, có thời gian khác nhau. Tôi đọc thơ của Rumi ở Ba Tư vào thế kỉ thứ 13 đã kinh ngạc vì sự rộng rãi thoáng đãng của tư tưởng, là vì tôi quen dùng khung khổ của văn minh phương Tây:  Vào thời kì đó châu Âu còn nằm trong đêm dài trung cổ. Phát triển hay không phát triển có rất nhiều khung khổ khác nhau về không gian và thời gian. Khi các nước phương Tây trở thành tư bản phát triển đã thực hiện các cuộc xâm chiếm đất đai trên phạm vi rộng lớn toàn cầu. Họ đã tiến hành một quá trình toàn cầu hóa, vừa vơ vét của cải vừa áp đặt nền văn minh của mình. Khi quy tất cả thành một mối, sự phát triển được giả định là xảy ra trong cùng một khung không gian và thời gian, có cùng tiêu chí, có nước phát triển và kém phát triển. Hầu hết các nước “kém phát triển” thuộc nền văn minh khác nên quá trình chuyển đổi phức tạp. Phức tạp không hẳn chỉ do dân chúng không thông minh nên hội nhập chậm mà là do bạo lực xảy ra, mà bạo lực thì tiếp nối bạo lực nên chặn lại là rất khó, hậu quả để lại lâu dài. Nếu các nước phát triển tự cho mình là lãnh đạo thế giới từ chối dân tị nạn nhập cư thì họ sẽ nêu lên thông điệp rõ ràng nhất là họ sẽ tiếp tục tàn ác, chỉ muốn làm thế nào để cho mình giàu có sung sướng, không quan tâm tới số phận con người. Như thế thì văn minh phương Tây cũng sẽ sụp đổ, không phát triển và tiến bộ gì cả. Một số học giả cho rằng những mâu thuẫn diễn ra hiện giờ là mâu thuẫn giữa các nền văn minh (điển hình là Huntington với tác phẩm The Clash of Civilizations); tuy nhiên, không có xung đột giữa phương Tây và đạo Hồi nói chung mà chỉ có sự mâu thuẫn giữa một số bên đã gây bạo lực cho nhau. Sự khác biệt không nhất thiết tạo ra mâu thuẫn, bạo lực là nguyên nhân của bạo lực.

Dân nhập cư từ các nước Hồi giáo gây ra một số gánh nặng, nhưng không phải là vấn đề gốc. Dân của các nước phát triển đi tới các nước khác xâm chiếm đất đai, tài sản (như thuê đất vài chục năm trời ở Việt Nam với giá rẻ), tận dụng các nguồn nhân công rẻ, tự trả cho mình lương cao, cũng như được người dân các nước kém phát triển hơn trọng vọng hơn, là đã thu bao nhiêu của cải, nhưng lại là tích lũy tư bản, mà tư bản không có nghĩa vụ phải trả tiền lo cho dân nhập cư vào nước mình hay là dân nghèo. Việc làm bị chuyển ra nước ngoài cũng là do tư bản thấy có lợi hơn, không phải là ra khỏi Liên Minh Châu Âu hay đưa Trump lên tổng thống là có được việc làm. Bản thân Trump như một trùm tư bản cũng tận dụng nhân lực giá rẻ của Trung Quốc. Sở hữu tư nhân và tự do tư tưởng là cần thiết, song những điều này không nhất thiết đồng nghĩa với chủ nghĩa tư bản vị lợi nhuận quá đà. Tư bản đặt lợi nhuận lên trên hết đã và đang gây ra những vấn đề rất lớn, giết chết rất nhiều người và tàn phá môi trường.

Quan tâm tới lịch sử của quá trình thuộc địa hóa và toàn cầu hóa không phải để kết luận rằng nguồn gốc của cải của xã hội là do xâm chiếm, bóc lột mà ra. Hoàn toàn không phải như thế. Đành rằng việc sáng tạo ra của cải vật chất đi kèm với vấn đề sở hữu, nhưng của cải vật chất được tạo ra không phải từ sự chiếm hữu hay bóc lột mà từ phẩm giá, sức lao động của con người trong những điều kiện thuận lợi nhất định. Tích lũy tư bản để giàu có hơn người lại là một vấn đề khác. Chuyện giàu nghèo ở các nước không đơn thuần là dựa trên “năng lực.” Hay nói cách khác, năng lực cũng được cấu thành từ tương quan về vị thế trong quá trình chiếm hữu của cải.

Quan tâm tới lịch sử của quá trình thuộc địa hóa và toàn cầu hóa không phải là quan tâm tới quá khứ hay để đổ tội cho đế quốc mà là để tự mình đối phó với những vấn đề hiện tại. Điên cuồng lên vì mình chưa giàu có, dẫn đến việc không muốn làm ăn tử tế, chỉ muốn vơ vét của cải hoặc phát triển nhanh và ẩu đang là vấn đề nổi cộm ở Việt Nam. Ngay cả khi muốn làm ăn tử tế mà không có chiến lược tốt với các luật chơi của toàn cầu hóa thì cũng sẽ bị sa bẫy. Việc nhiều người dân nước Anh, nước Mỹ không hiểu về quá trình thuộc địa hóa và toàn cầu hóa, không có góc nhìn sinh thái và lịch sử với những gì diễn ra, chỉ nghĩ đơn giản là dựng lên hàng rào thì sẽ giải quyết vấn đề, sẽ chỉ tạo thêm ra vấn đề.

Toàn cầu hóa cũng mở ra nhiều cơ hội, trong đó có cả cơ hội chống lại chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc. Những cơ hội đó chủ yếu đến từ việc con người có thể tiếp cận nhiều luồng tư tưởng hơn.

Tôi vẫn tin phần lớn hơn của dân Mỹ sẽ không bầu cho Trump, nhưng đó không phải là sự tin chắc. Sau kết quả 51.9% dân Anh bỏ phiếu rời Liên Minh Châu Âu với những lập luận đầy thù ghét, ích kỷ  và thiếu hiểu biết (họ để lại trên các trang đưa tin về kết quả này), Bernie Sanders đã phải lên tiếng ủng hộ Hillary Clinton, tuyên bố làm mọi điều có thể để chống lại Trump. Kết hợp giữa Clinton và Sanders là khó tưởng tượng, vì tư tưởng hai người quá khác nhau, nhưng tôi mong chờ sự kết hợp này.

Ủng hộ giáo dục sáng tạo ở Việt Nam

Người ta vẫn thường nói người Việt Nam thiệt thòi về mặt giáo dục, phải ra nước ngoài để “tị nạn” giáo dục. Những phát biểu như thế không hẳn là “sai,” nhưng nếu nhìn rộng ra, chúng ta sẽ thấy những cơ hội hay nguồn tài nguyên giáo dục mà ở nơi khác không có, sẽ thấy mình may mắn biết nhường nào. Tôi đã nhiều lần may mắn như thế, và có một may mắn tôi nhất định phải kể tên, phải nhắc tới nhiều lần: Tôi được học Phương Pháp Luận Sáng Tạo ở Việt Nam.

Môn học Phương pháp Luận Sáng Tạo được gây dựng và phát triển ở Việt Nam dựa trên lý thuyết giải các bài toán sáng chế của Altshuller (TRIZ). Ở những nước khác, lý thuyết này được xếp vào dạng cấp cao, “exclusive,” chỉ dành cho dân chuyên nghiệp, doanh nghiệp, hay nói chung là những người có địa vị và giàu có trong xã hội. Nó được xếp vào dạng phải giữ trong phạm vi hẹp để đẩy mạnh lợi thế cạnh tranh. Ví dụ, vào năm 2005, một khóa học TRIZ cơ bản kéo dài 5 ngày cung cấp bởi Oxford Creativity (một trung tâm đào tạo TRIZ thành lập năm 1998 bởi Karen Gadd có trụ sở gần Oxford, chứ không phải trung tâm của trường đại học Oxford) có giá 400 bảng Anh mỗi người mỗi ngày. Vì TRIZ phục vụ cạnh tranh, giá các khóa học TRIZ thường không được niêm yết rộng rãi.

Ở Việt Nam, TRIZ được mang tới nhiều người với giá cả phải chăng. Đó thực sự là một món quà tặng lớn. Tuy nhiên, TRIZ Việt đang đứng trước một số thách thức lớn: công lao gây dựng và phát triển môn học không được nhìn nhận đúng đắn, thiếu nguồn đầu tư để phát triển đội ngũ giảng viên, còn ít người biết đến môn học … Tôi tin rằng một lý thuyết thực tiễn như TRIZ sẽ luôn tìm thấy đất để sống, nhưng nguồn tài nguyên ấy có đến được với nhiều người hay không là một câu hỏi, mà chúng ta quyết định câu trả lời. Các lớp học Phương Pháp Luận Sáng Tạo là một nguồn tài nguyên tôi nghĩ nhân dân cần góp sức để chúng được nhân rộng, trở nên dồi dào.

Có thể góp sức bằng những hành động đơn giản: các bạn vào đường link này https://goo.gl/hzlNoa để kí tên ủng hộ Phương Pháp Luận Sáng Tạo và thầy Phan Dũng. Nếu bạn đã học Phương Pháp Luận Sáng Tạo, tôi mong bạn chia sẻ cảm nhận, ý kiến của mình và chia sẻ đường link. Nếu bạn chưa học Phương Pháp Luận Sáng Tạo, bạn có thể đọc phần bình luận để biết những người đã học xác nhận giá trị của môn học này như thế nào, giới thiệu đường link tới mọi người, và bắt đầu tìm hiểu môn học.

Nghệ thuật đương đại, sự mơ hồ và tư duy thực dân

Nghệ thuật không phải chỉ là sự thể hiện cái tôi cá nhân. Khi đến với người xem, nó tham dự vào sự phân phối cảm quan của cộng đồng. Làm nghệ thuật cho riêng mình là một chuyện, nhưng khi đem tác phẩm của mình chia sẻ với mọi người, tôi giả định rằng người nghệ sỹ quan tâm không chỉ đến cá nhân mình mà còn tới sự phân phối cảm quan của cộng đồng — tác phẩm của mình tác động vào sự phân phối cảm quan đó như thế nào.

Một hướng đi của nghệ thuật đương đại là khai thác những ranh giới, sự mơ hồ và không ấn định. Hướng đi này được hiểu như là nỗ lực phê bình xã hội hoặc tạo ra một không gian khác, mới mẻ, không có hoặc vơi đi định kiến. Tuy nhiên, mơ hồ là một điều không dễ đạt. Nếu bạn hướng tới một nhóm đối tượng đòi hỏi sự rõ ràng và gọn nhẹ, mơ hồ rất dễ đạt. Nhưng với người tìm kiếm sự mơ hồ, đứng ở những ranh giới, mơ hồ và không ấn định là một điều vô cùng khó. Các tác giả có thể tuyên bố là mình không đứng ở vị trí này hay vị trí khác, nhưng những gì hiện lên vẫn là vị trí của kẻ thực dân. Theo những diễn ngôn trong lịch sử, tác phẩm đã khớp trọn vào một số khuôn khổ sẵn có hơn là phê bình những khuôn khổ ấy hoặc hồn nhiên mà không khớp vào đâu. Ý nghĩa của tác phẩm được xác định không phải chỉ dựa trên ý đồ của tác giả mà dựa trên nguồn tài nguyên tạo nghĩa đã có — lịch sử diễn ngôn.

Khi nghệ thuật không hướng tới sự ấn định, người nghệ sỹ đặt ra những câu hỏi chứ không đưa ra câu trả lời rõ ràng. Có điều, thường thì, những câu hỏi ấy người khác đã đặt ra lâu rồi. Khi đó, chơi hay làm việc trên các đường ranh giới là chơi và làm việc trên các đường ranh giới của những câu trả lời đã có, về cả nội dung cũng như hình thức. Sự mơ hồ tạo ra bằng một số thủ pháp kỹ thuật chỉ là sự tuân theo những bộ mẫu quy ước hơn là sáng tạo. Sáng tác một tác phẩm chỉ để thể hiện nghệ thuật cần phải mơ hồ, mà lại dựa trên bộ mẫu sẵn có của sự mơ hồ, thì đó lại là biểu thị rõ ràng nhất của một vị trí — vị trí của kẻ thực dân.

Hiểu rộng ra, tư duy thực dân là sự áp đặt mô hình sẵn có lên một không gian-thời gian khác. Theo cách hiểu này, quan niệm rằng nghệ thuật là sự thể hiện cái tôi sẵn có cũng là một hình thức của tư duy thực dân.